| Column 1 of row 1 | Column 2 of row 1 |
| Column 1 of row 2 | Column 2 of row 2 |
124. Câu Chuyện Ông Hai Lợi Vâng Lịnh Đức Hộ Pháp Lên Núi Lấy Vàng
Ông Hai Lợi người Phạm Môn: Sau là Chơn Nhơn Trần Văn Lợi nguyên đệ nhị Phó Chưởng Quản Phước Thiện. Kể lại câu chuyện Đức Hộ Pháp sai ông lãnh nhiệm vụ làm đầu nhóm đi lấy vàng trên núi Bà về cho Đức Ngài sử đụng làm Tòa Thánh.
Chuyện kể: Năm 1930 là lúc khởi công tạo tác Đền Thánh, cùng việc thiết kế phóng lộ đường, mở mang khu dân cư, khoanh vùng nơi sanh hoạt kinh tế chợ, và sắp xếp những việc cần thiết trong vùng Thánh Địa sau khi mua của người Pháp Asdar 40 kilomet vuông.
Lúc ấy Đức Hộ Pháp rất nghiêm nhặt, phân công mỗi người một việc và việc ai người ấy làm. Không ai hỏi lấy ai, nghiêm túc chấp hành và phải dứt khoát thành công.
Riêng ông Hai Lợi và bốn người nữa cũng là người Phạm Môn (người lạ: 4 người này không ai biết ai) được Đức Ngài giao nhiệm vụ đi lấy vàng ở núi Bà. Tất cả đều đến Hộ Pháp Đường để nghe Đức Hộ Pháp dạy việc để thi hành theo thứ tự từng phần một.
Xong xuôi, Đức Hộ Pháp trao cho một tấm bản đồ vẽ tay. Trong đó chỉ hướng đi cặn kẽ, tỉ mỉ.
Đức Ngài đưa cho 5 cái gói vải và dặn chỉ phân nữa cái túi vải này cho dễ cầm, không được đầy hoặc hơn phân nữa cũng không được (túi vải như cái áo gối nhỏ khoảng chừng 3 lít gạo).
Khi đi đồ trang bị gồm dây, phấn làm dấu, đèn cầy lớn số 1, hột quẹt, ống khò của thợ hàn, rổ và vài vật dụng cá nhân khác.
Sáng lên đường, điểm xuất phát là cửa Hòa Viện, coi bản đồ nhắm hướng mà đi. Sau khi vượt qua quãng đường chông gai, rừng già dày đặc, các ông đến miệng hang thì người đã thấm mệt. Nghỉ mệt, ăn cơm uống nước, rồi chuẩn bị cho việc kế tiếp.
Người đi đầu khò đèn, người sau bước theo thận trọng tiến sau vào hang, đi san sát để hỗ trợ nhau khi cần thiết. mỗi một nẻo quanh là một lần phấn bệt dài đậm nét phòng khi trở về không bị lạc.
Hang mỗi lúc một sâu thêm ống khò không đủ hiệu năng thắp sáng, nên đốt thêm đèn cầy lớn thay vì làm đuốc. Sau khi lom khom bò qua các khe, các ngỏ hang, cuối cùng đã đên đúng điểm mà bản đồ ghi.
Nơi đây là một khoảng rộng, phía dưới là một dòng nước trong và lạnh mát. Nươc ngập dưới đầu gối một chút, đáy là cát, đá to nhỏ đủ cở, các ông nhìn thấy nó nhấp nhoáng ánh sáng màu vàng, cùng những màu rực rớ khác khi phản chiếu dưới ánh đèn cầy lớn (lúc này các ông đốt đèn nhiều).
Mỗi người một tay, mang hết khả năng ra đãi cát. Lựa các hạt mẫu mà Đức Hộ Pháp đã căn dặn kỹ cho kịp thời gian qui định cùng số lượng và chất lượng để về kịp trong ngày, không ai dám chểnh mảng, tiêu cực vì mỗi người phải hoàn thành nửa túi, trong đó ông Lợi phải 2 vì tới 5 cái.
Nhưng cuối cùng các ông cũng san sẻ nhau chia đều số đãi (số đãi đổ chung một đống) thành 5 cái túi mà thời gian vẫn còn, quí anh tranh thủ lượm thêm một số đá đen đá đỏ lạ mắt mà các ông chưa từng thấy, bỏ vào túi áo mang về làm kỷ niệm chơi. Rất là may mắn vì từ lúc đi đến lúc về không có xảy ra điều gì đáng tiếc.
Các ông rất tin tưởng nơi Đức Hộ Pháp và rất kính sợ, bởi vì việc làm này các ông thấy sự huyền diệu từ đầu tới cuối. Các ông nghĩ rằng nếu không phải lịnh Thầy thì đâu được như thế.
Nguy hiểm là điều dễ xãy ra ở chốn rừng sâu núi thẩm, thú dữ thì nhiều. Hơn nữa việc làm kín đáo, nếu lộ thì bị Pháp bắt vì ảnh hưởng đến chính trị và kinh tế. Vấn đề phát hiện và khai thác vàng dễ gì Pháp bỏ qua.
Đoàn người về tới Nội Ô, khi bóng người ngả dài dưới ánh nắng chiều. Các ông đi thẳng vô Hộ Pháp Đường trình diện và trao đủ số túi vải, tấm bản đồ cho Đức Hộ Pháp.
Sau đó, Đức Hộ Pháp giao cho quí ông lớn tuổi, đó là các ông: Bồi, Bái, Sậy (trong đó có thân phụ ông Phạm Ngọc Bổn và vài ông nữa cũng lớn tuổi như ông Bồi, ông Bái, vì các ông ấy biết về thợ bạc).
Nhận lịnh của Đức Hộ Pháp, các ông này cho túi vải vào hồ, nhồi lộn cọ sát cho bợn vàng nổi lên trên mặt nước vớt hết chứa riêng một nơi. Sau cùng làm cho sệt lại để dùng phết vàng vào 7 cái ngai: Ngai Giáo Tông, Chưởng Pháp, Đầu Sư, nơi cung Đạo. Đánh dấu sự có thật của mỏ vàng còn đang thời kỳ non.
Ông Lợi kể tiếp: Sau đó vài bữa, ông rủ thêm hai ông khác tính đi chuyến nữa. Nhưng lối cũ thì nhớ đó, mà cứ quanh quẩn trở về, vừa lo vừa sợ.
Sợ là vì dối Đức Ngài đi lén, lo là lo bị phạt. Thôi thì trình sự thật hay hơn, cầu xin tha thứ chớ biết làm sao.
Đức Hộ Pháp nghe xong cười rồi nói:
– Hôm các con đi có phép của Thầy, chư Sơn Thần nơi ấy có trách nhiệm gìn giữ mới cho vào.
Còn hôm nay các con đi không có phép tắc chi hết, nên chư Thần gìn giữ nơi ấy đâu cho vào được, các con phải biết quyền vô hình nghiêm ngặt mà giữ mình. May là các con là người của Thầy, chớ nếu không có lẽ nguy hại đến tính mạng".
Nghe xong các ông toát mồ hôi lạnh. Đức Ngài xá tội cho ra về.
Sau đó, ông Lợi đem số đá trắng, đỏ đã đem về lúc trước cho thợ đá xem. Các vị thợ bạc và thợ đá nói là những viên ngọc bích, những viên này rất cứng.
Thoạt đầu thợ bạc lãnh mài với giá 0,5 đồng 1 viên. Sau đó khó quá nên nâng giá 0,8 rồi 1 đồng đến 1,2 đồng đến 1,5 đ. Vì thấy 1,5 đồng mắc quá nên số còn lại các ông cho con cháu và người thân vài viên để làm kỉ niệm.
Các ông còn lựa một viên cứng đẹp nhất, hùn tiền lại mài cho Đức Hộ Pháp một chiếc cà rá lớn.
Lúc ở madagascar, cả đêm lẫn ngày mỗi khi cà rá chớp sáng là Đức Hộ Pháp biết bà Linh Sơn Thánh mẫu đến thăm. Lần đầu tiên thấy cà rá chớp, Ngài lấy làm lạ hỏi vì sao vậy.
Bà Linh Sơn trả lời vì đó là báu vật ở núi Bà, còn Bà là chủ của nó. Vì thế mà mỗi khi chủ tới là vật tỏ dấu hiệu mừng, cũng là vị báo tin.
Từ đó, Đức Ngài thấy cà rá chớp là biết chủ của nó đến.