| Column 1 of row 1 | Column 2 of row 1 |
| Column 1 of row 2 | Column 2 of row 2 |
Cửu Vị Tiên Nương
Cửu vị Tiên Nương là chín vị Tiên Nữ nơi Diêu Trì Cung hầu cận Ðức Phật Mẫu. Có lời dạy rằng:
"Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Vị Tiên Nương trông nom về Cơ giáo hóa cho Vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là Ðấng cầm đầu. Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại cung Nam hải, ở An Nhàn động, còn Diêu Trì Cung thì ở Tạo Hóa Thiên". (Trích Luật Tam Thể)
Cửu Vị Tiên Nương đứng hàng Tiên vị, nhưng theo năm bậc thang tiến hóa của các Chơn hồn lần lượt là: Nhơn-hồn, Thần-hồn, Thánh hồn, Tiên-hồn, Phật-hồn; thì Tiên-vị còn phải tiến hóa lên Phật vị.
Nay, nguơn hội Cao Đài Cửu vị Tiên Nương đã lập được nhiều công quả trong thời kỳ khai Ðạo: dẫn dắt các nguyên căn đi vào đường đạo-đức để làm Tướng soái cho Ðức Chí Tôn khai Ðạo, lại dày công giáo hóa Nữ phái, cho nên Cửu vị Tiên Nương được thăng lên hàng Phật vị và được gọi là: Cửu vị Nữ Phật. Nhưng vì nhơn sanh vẫn quen gọi là Tiên Nương nên dùng lẫn nhau mà ít khi sửa ra chữ "Nữ Phật".
Bát Nương giáng cơ vào đêm 25-04-Canh Dần (1950): Tả Chín Vị Tiên Nương:
Nếu quan niệm rằng Phật Mẫu là tín ngưỡng sẵn có trong dân gian được Đạo Cao Đài phát triển thành một sắc thái đặc thù thì Cửu Vị Tiên Nương hoàn toàn chưa hề có trong lịch sử các tôn giáo.
Đây là nét độc đáo, làm cho Đạo Cao Đài có bản sắc riêng, sự hiện diện của Chín Cô (gọi theo bài Tán tụng công đức Diêu Trì Cung) xây dựng cho Đạo Cao Đài những tư tưởng giải thích được :
Phát biểu những điều trên là dựa theo Kinh Phật Mẫu, các bài Kinh Cửu, các bài Thài, có thể bổ sung thêm Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Kinh Di Lặc. Thiết nghĩ, người nào muốn hiểu Đạo Cao Đài theo bổn nguyên của nó cũng phải dựa theo những Thánh Ngôn, những kinh giảng do các Đấng giáng cho trong kỳ ba phổ độ nầy.
Theo Kinh Lễ, trong các bài Kinh Cửu thì Chín Từng Trời từ dưới lên trên là :
Là mẹ sanh của toàn thiên hạ, chưởng quản Tạo hóa Thiên. Ai đã đến thế gian này đều phải nhờ ơn Phật Mẫu lựa chọn cho xuống trần, chịu khổ nhọc cho tới đoạt thành Phật vị. Ơn tạo hình hài, ơn dưỡng nuôi giáo hóa và ơn dìu dẫn thoát trần của Phật mẫu thật là vô lượng vô biên.
Hai chữ Kim Mẫu là hai chữ nói tắt, chính thật là Kim Bàn Phật Mẫu trong Di Lạc Chơn Kinh có chỉ rõ, bởi vậy nơi cõi trần Phật Mẫu là Mẹ của toàn nhơn loại, mà nơi cõi hư linh Phật Mẫu là Mẹ của cả Thần Thánh, Tiên, Phật..
Nhứt Nương cầm bửu pháp là đờn Tỳ bà, mặc áo xanh, cai quản vườn Ngạn-Uyển nơi từng Trời thứ nhứt trong Cửu Trùng Thiên, đón tiếp các chơn hồn qui Thiên đi lên Cửu Trùng Thiên, xem xét các nguyên nhân đang còn sống nơi cõi trần hay đã qui liễu. Mỗi đoá hoa trong vườn Ngạn Uyển là một chơn linh. Khi chơn linh tái kiếp xuống trần thì hoa nở, khi qui liễu thì hoa héo tàn, nếu chơn linh làm điều đạo đức thì sắc hoa tươi thắm, còn làm điều gian ác thì sắc hoa ủ-dột xấu xí.
Trong một kiếp giáng trần ở Việt-Nam, Nhứt Nương có tên là HOA (Hoàng Thiều Hoa). Do đó, khi Nhứt Nương giáng cơ cho thi thì có chữ HOA đứng đầu bài thi:
Nhị Nương cầm bửu pháp Lư hương, mặc áo xanh, cai quản vườn Ðào Tiên của Ðức Phật Mẫu ở từng Trời thứ nhì trong Cửu Trùng Thiên, đón tiếp và hướng dẫn các chơn hồn đi lên từng Trời thứ nhì, vào vườn Ðào Tiên, mở tiệc rót rượu trường sanh đãi các chơn hồn, rồi đưa chơn hồn lên Ngân Kiều, có Kim quang đỡ chơn hồn đi lên từng Trời thứ ba. (Kim Quang kiệu đỡ đến triều Ngọc Hư)
Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Nhị Nương có tên là CẨM, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ CẨM đứng đầu bài thi:
Tam Nương cầm bửu pháp là quạt Long Tu Phiến, mặc áo xanh, đón tiếp các chơn hồn lên từng Trời thứ ba là Thanh Thiên, dùng thuyền Bát Nhã đưa các chơn hồn đi qua biển khổ sang bờ giác ngộ, qui hồi cựu vị. (Chở che khách tục Cửu tuyền ngăn sông)
Tam Nương có một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tiên-Nương có tên là TUYẾN, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ TUYẾN đứng đầu bài thi:
Tứ Nương cầm bửu pháp Kim Bản, mặc áo đỏ, đón tiếp các chơn hồn lên từng Trời thứ tư là Huỳnh Thiên, làm Giám khảo tuyển chọn các văn tài trong mỗi khoa thi, ai hiền đức và tài giỏi thì Tứ Nương hộ trì cho thi đậu, (vàng treo nhà ít học không ưa), để đem tài năng ra giúp đời.
Một kiếp giáng trần ở Việt Nam Tứ Nương có tên là GẤM, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ GẤM đứng đầu bài thi:
Ngũ Nương cầm bửu pháp là xe Như Ý, mặc áo đỏ, tiếp dẫn các chơn hồn lên từng Trời thứ năm là Xích Thiên trong Cửu Trùng Thiên. Nơi đây , chơn hồn được hướng dẫn đến Minh Cảnh Ðài để xem rõ ràng các việc làm tội phước trong kiếp sanh nơi cõi trần, rồi đến cung Ngọc Diệt Hình để mở quyển Kinh Vô Tự, xem quả duyên của mình (dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng).
Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Ngũ Nương có tên là LIỄU, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ LIỄU đứng đầu bài thi:
Cầm Phướn Tiêu Diêu (Phướn Truy hồn), mặc áo đỏ, độ dẫn khách trần và tiếp các chơn hồn hữu căn về đến cõi Kim Thiên, dẫn đến Đài Huệ Hương, xông cho thơm linh thể và ra lịnh trỗi Thiên Thiều đưa các Chơn linh đến Tây phương cực lạc.
Lục Nương cầm bửu pháp là Phướn Tiêu diêu hay Phướn Truy hồn, mặc áo đỏ, tiếp đón các chơn hồn lên từng Trời thứ sáu là Kim Thiên, hướng dẫn đến cung Vạn Pháp cho chơn hồn xem rõ cựu nghiệp của mình, rồi đến lãnh Kim sa, được chim Khổng Tước đưa lên Ðài Huệ Hương xông thơm chơn thần, có nhạc Thiên thiều trổi đưa chơn hồn đi lên.
Trong một kiếp giáng trần ở nước Pháp, Lục Nương là Thánh Nữ Jeanne d'Arc (1412-1431) đã đánh đuổi quân xâm lăng Anh quốc để cứu nước Pháp.
Sau đó, Lục Nương giáng trần ở Việt Nam, tên là HUỆ, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ HUỆ đứng đầu bài thi:
Thất Nương cầm bửu pháp là Hoa sen, mặc áo vàng, tiếp đón các chơn hồn đến từng Trời Hạo Nhiên Thiên bái kiến Ðức Chuẩn Ðề Bồ Tát và Ðức Phổ Hiền Bồ Tát.
Thất Nương lại để lòng từ bi, tình nguyện lãnh lịnh Ngọc Hư Cung xuống cõi Âm Quang giáo hóa các Nữ tội hồn cho họ sớm thức tỉnh, để được tái kiếp trả xong căn quả và tu hành, chỉ chỗ đầu thai đặng theo Đạo lần về cựu vị.
Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Thất Nương có tên là VƯƠNG THỊ LỄ, sanh năm 1900 tại Chợ Lớn, là con gái của ông Vương Quan Trân và Bà Ðỗ thị Sang (con của Tổng Ðốc Ðỗ Hữu Phương), Vương Thị Lễ bị bạo bệnh mất năm 18 tuổi.
Thất Nương thường giáng cơ dạy Ðạo và cho thi, khi giáng cơ Cô thường đặt chữ LỄ đứng đầu:
Cầm giỏ Hoa lam, mặc áo vàng, một đấng Thiêng liêng rất linh hiển dày công giáo hóa buổi Đạo khai, có phận sự độ rỗi các nguyên nhân tại thế, nhứt là nữ phái và tiếp đưa các chơn hồn quy vị về tới Phi Tưởng Thiên, đến cung Tận Thức, dự tiệc thoát trần (Tiên tửu nơi Phi Tưởng Thiên là nước Cam lồ). Ai có việc chi cầu khẩn nơi Bát Nương thì đắc nguyện một cách rất linh hiển.
Bát Nương cầm bửu pháp là Giỏ Hoa Lam, mặc áo vàng, một đấng Thiêng liêng rất linh hiển dày công giáo hóa buổi Đạo khai, có phận sự độ rỗi các nguyên nhân tại thế, nhứt là nữ phái và tiếp đưa các chơn hồn quy vị về tới Phi Tưởng Thiên, từng thứ tám trong Cửu Trùng Thiên, hướng dẫn chơn hồn đến bái kiến Ðức Từ Hàng Bồ Tát, đến cung Tận Thức, dự tiệc thoát trần (Tiên tửu nơi Phi Tưởng Thiên là nước Cam lồ)
Bát Nương rất thường giáng cơ dạy Ðạo và cho thi, bài Phật Mẫu Chơn Kinh dùng tụng đọc hằng ngày, khi cúng Ðức Phật Mẫu do Bát Nương giáng cơ ban cho tại Báo Ân Ðường Kim-Biên (Nam vang) khi Ðức Hộ Pháp phò loan tại đó.
Ai có việc chi cầu khẩn nơi Bát Nương thì đắc nguyện một cách rất linh hiển.
Bát Nương giáng trần nơi nước Trung Hoa, vào thời nhà Tây Hán, tên là Bạch Liên (Hoa sen trắng), Bát Nương cũng có giáng trần ở Việt Nam vào nhà họ Hồ, thế nên xưng danh là Hồ Hớn Liên-Bạch hoặc "Hồ Hớn Liên Hoa trắng nở ngày"
Cửu Nương cầm bửu pháp Ống tiêu, mặc áo xanh, tiếp đón các chơn hồn lên từng Trời Tạo Hóa Thiên để đưa vào bái kiến Ðức Phật Mẫu, dự tiệc bàn đào (hội yến Diêu Trì), được Phật Mẫu ban cho đào hạnh và rượu Tiên.
Một kiếp giáng trần ở Việt Nam, tỉnh Bạc Liêu, Cửu Nương tên là Cao Thị Khiết hay Cao Thoại Khiết (tên giấy tờ là Cao Thị Kiết), con của ông Ðốc Phủ Cao Minh Thạnh và Bà Tào Thị Xúc. Cô là con gái út thứ 9 trong gia đình Khi giáng cơ cho thi, Cô thường đặt chữ Khiết đầu bài thi:
Tóm lại các nghề hay nghiệp khéo và về nữ công họăc Cầm, Kỳ Thi, Họa và triết học văn chương đều do Cửu Vị Nữ Phật giáo hóa và ung đúc cho thành tài.
Như thế Cửu vị Tiên Nương trông nom về cơ giáo hóa vạn linh, tất cả nghề hay nghiệp khéo, về Nữ công hoặc Cầm, Kỳ, Thi, Họa hay Văn chương Triết học đều thuộc phần nhiệm của Cửu vị Tiên Nương giáo hóa và un đúc cho thành tài.
Trên bức vách ngăn giữa chánh điện và hậu điện, có đắp tượng Đức Phật Mẫu, Cửu Vị Tiên Nương và Tiên Đồng Nữ Nhạc, ngồi trên lưng chim thanh loan trong tư thế đáp xuống.
Tượng Đức Phật Mẫu ngồi chính giữa, mặc áo vàng, tay cầm ngọc Như Ý, bên tay mặt của Đức Phật Mẫu có các vị:
Bên tay trái của Đức Phật Mẫu từ thấp lên cao có các vị:
Đạo Cao Đài thành lập năm 1925 trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, mà chủ trương Nam Nữ bình đẳng là đi trước thời cuộc và xã hội, tránh sao chánh quyền bảo hộ thực dân Pháp đã cho rằng Đạo Cao Đài có màu sắc chính trị (Le Caodaisme (quyển VII), Hà nội 1934).
Đức Chí Tôn giáng dạy: "- Hễ bao nhiêu Nam tức cũng bấy nhiêu Nữ, Nam Nữ vốn như nhau, nên Thầy đến phong cho Nữ phái buổi lập Pháp Chánh Truyền" (Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Paris Gasnier 1952).
Đức Lý Giáo Tông cũng dạy : "- Nam Nữ vốn đồng quyền, Giáo hữu Nam phái cũng chịu dưới quyền Giáo sư Nữ phái (Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Paris Gasnier 1952). .. .Trong khi phụ nữ Hồi giáo không được đến nhà thờ, phụ nữ Thiên Chúa giáo không được làm Linh Mục.. .".
Nhất là Bà Bát Nương, tư tưởng gia của nền Đại Đạo, thì phát biểu mạnh mẽ rằng :
Hoặc khi Bà giáng cơ thấy vắng mặt Giáo hữu Hương Hồ vì cô nầy có kinh nguyệt, thì Bà Bát Nương phán rằng :
Quả thật là một cuộc cách mạng to lớn, dù trong thời kỳ kinh nguyệt, vẫn đi làm việc bình thường miễn là vén khéo giữ vệ sinh, trong lúc xã hội còn nặng hủ tục "Nữ khuê môn bất xuất", " nữ Tam tòng Tứ đức".
Quả thật, giáo lý Cao Đài đã phóng giải phụ nữ trước thời đại; lớn hơn tầm vóc họ đang mong quá nhiều.
Thánh Giáo dạy về việc độ rỗi con người khi còn trong bụng mẹ "độ dẫn hoài sanh", Thất Nương khêu đuốc Đạo đầu, Lục Nương, Bát Nương.. . cũng hết lòng phổ độ quần sanh.
Trong buổi đầu khai đạo, có người còn chưa tin, làm khải để thử "Có đâu Tiên Phật giáng phàm gian" liền được họa đáp lại. Đồng thời Đức Chí Tôn cho chuyển nhiều huyền diệu như trị các bịnh ngặt nghèo, cứu người bằng âm dương thuỷ.
Đức Chí Tôn dạy: "- Tuy con không thấy Thầy nhưng nghe Thầy dạy thì con nên tin đó là sự thật".
Có lắm người tưởng rằng ta phải thấy Chúa y như Chúa đứng bên nầy, còn ta đứng bên kia, đâu phải vậy. Chúa với tôi chỉ là một trong động tác thấy chúa của tôi" (Eckhart), vả lại cơ thể của Thần Tiên thật là tinh tế, mắt thường đâu thể nhìn thấy được.
Chúng sanh muốn sờ mó được cái gì cứu rỗi, nên Đức Chí Tôn, Phật Mẫu mới giao con thuyền Bát Nhã làm Thể pháp cho Tam Nương độ đời. Ngài dạy :
Bài vịnh Thuyền Bát Nhã đại diện cho cả giáo lý Cao Đài, nghĩa là giáo lý chỉ là phương tiện, nếu ta đọc kinh sách Đạo với tâm trạng thao thức suy nghĩ, ta sẽ thấy được nghĩa lý uyên thâm của nó.
Trong mỗi trường hợp, mỗi lời Thánh dạy có lối giải thích theo trạng huống, nếu ta nhận định đúng Thánh ngôn trong mỗi trường hợp, ta sẽ thấy lý ưng của nó.
Đức Chí Tôn dạy : "- Thầy không bao giờ nghĩ rằng chúng sanh sẽ đọc giáo lý của Thầy để đạt đạo vì giáo lý chỉ là những bài luân lý đơn thuần, không phải chỉ đọc được nó mà thành đạo".
Vả lại, giáo lý thâm hậu không thể nói bằng lời, diễn bằng bút, các Chức sắc giảng đạo là chỉ gợi lên hoặc hướng dẫn các tín hữu nhiều điều dẫn đến chân lý, ai thấy thì thấy liền, ai không thấy, càng tìm càng tối tăm.
Giáo lý Đạo Cao Đài chỉ là hướng đạo tri thức, chỉ ra con đường cứu rỗi, Thầy không hề tiết lộ bằng con đường hiểu đạo (tri thức) hoặc siêu hình của sự cứu rỗi mà phải tự giác ngộ, mỗi người riêng rẻ không thể giải thích được mà chỉ có thể chứng nghiệm bằng nội lực và nội tâm của mình, cố gắng là nhân tố rất quan trọng trong sự tu luyện vì không có sự giải thoát nào nếu không có sự cố gắng của cá nhân.
Xem như thế, Thuyền Bát Nhã cũng chỉ là phương tiện mà cứu cánh là tu luyện, con thuyền chẳng hề chìm, lướt nhẹ như bông, nhưng sao lại nặng tợ kim loại ?
Đó là do chỗ không biết đạo, không ngộ đạo. Ở thế, ai muốn nằm ngồi trên thuyền cũng được vì đó là con thuyền gỗ với đôi bánh xe cao su. Thuyền chỉ là phương tiện, là lớp vỏ bên ngoài như cái áo của nhà tu, nếu chỉ mặc áo mà thành đạo thì ai cũng làm được.
Đạo phải trụ vững trong lòng, con đường tu như sóng dồi thuyền lúc bổng lúc trầm, ta không trì chí bền lòng (không duyên) thì con Thuyền Bát Nhã của Tam Nương (chớ không phải bằng cây gỗ ở Khách Đình) sẽ nhận ta chìm.
Thầy cũng dạy : "- Giáo lý Thầy như đũa ăn cơm, không đũa ta ăn cơm cũng được".
Thế thì đũa cũng chỉ là phương tiện (người Ấn Độ ăn bốc), việc cầu kinh hằng ngày, với các nghi lễ phức tạp chỉ là phần hành của đường tu. Ta chỉ có thể thấy được sự cứu rỗi bằng sự tồn tâm dưỡng tánh, tự đọc kinh sách với tâm trạng thao thức.
Thế nên, khi đọc Thánh ngôn, không phải chăm chú vào những từ ngữ có vẻ bình dân quê kệch của đầu thế kỷ 20, mà nên coi văn tự chỉ là phương tiện trình bày chân lý bên trong. Dù vậy, giáo lý tuy là phương tiện, nhưng bỏ mất giáo lý thì không có cái gì để đạt được cứu cánh, bằng ý nghĩ đó, nếu bỏ thuyền thì có gì để đưa xác đến phước địa được.
Do đó, khi đọc giáo lý, phải tư duy sinh động, phải băn khoăn, cái hay của giáo lý là thế hệ nầy đọc, hoàn cảnh nầy nghe thì phù hợp ngay; đến thế hệ sau, tình huống khác thì nó cũng thích hợp.
Giáo lý Cao Đài thọ truyền bất hủ lậu là vậy, bởi lẽ, khi nghe ai nói đây là Kinh và Thánh ngôn của Đạo Cao Đài thì không vội chấp nhận, không vội gác bỏ (vì ngoài Thập Nhị Thời Quân của Thầy còn nhiều cặp đồng tử của các phái đạo), nên nghiên cứu tường tận rồi so sánh, nếu không phù hợp với Kinh, Thánh ngôn của Thầy thì chắc chắn không phải là bổn nguyên giáo lý của Đạo Cao Đài.
Luận giải như vậy, Thuyền Bát Nhã vẫn là biểu tượng cứu rỗi của Đạo, nhưng những ai "không duyên một đứa cũng là chìm", Đức Chí Tôn lại dạy về Thuyền Bát Nhã chính ở trong tâm.
Con đường cứu rỗi mà Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương gọi là con đường Thiêng Liêng Hằng Sống, khi theo con đường nầy thì con người sẽ được cứu rỗi đời dời, diễn ra như sau :
Khởi đầu, Đức Phật Mẫu dùng Bí pháp mà hoá kiếp:
(Xem Đạo Cao Đài Tôn giáo Đại đồng nhơn loại)
Đạo Cao Đài công nhận có thuyết chuyển luân "Chuyển luân định phẩm cao thăng" (Kinh Phật Mẫu), còn cửa Địa ngục và cửa quỉ bị đóng lại vì đây là Kỳ Ba Đại Ân Xá (Troisième Amnistie).
Bởi lẽ giáo lý Đạo Cao Đài dạy : chết là chấm dứt đời sống vật lý và tâm sinh lý, hiện tượng tử sanh như dòng thời gian trôi không ngừng nghỉ, linh hồn con người vẫn còn mãi mãi.
Vì lẽ, linh hồn là một điểm linh quang (gọi là Tiểu Thiên địa khi tái kiếp) của Đức Chí Tôn. Đức Chí Tôn là Đại Linh quang, Đại Thiên Địa, cái máy phát ra luồng điện bao trùm khắp vũ trụ nên các đồng tử mang sẳn luồng điện cùng tần số khi được cảm ứng thì cơ giáng và có thể Đức Chí Tôn giáng một lúc ở nhiều nơi, chẳng khác nào khi mọi người bật nút điện Radio nghe cùng một đài phát.
Claude Bernard cũng xác nhận : "Cơ thể tự thành một nguyên vị điều hoà, một vũ trụ nhỏ (microcosme) trong vũ trụ lớn (Macrocosme) (Claude Bernard, Introduction à l'étude de la médecine expérimentale, Saigon 1960, trang 49)
Fred Hoyle cũng xác nhận : "Trên dãy Ngân Hà có lối một triệu hành tinh có sự sống" (Fred Hoyle, The Nature of Universe, trang 87, 89)
Thuyết chuyển luân của Đạo Cao Đài hay thuyết luân hồi của các Đạo khác không mới lạ gì với nhơn loại.
Schopenhauer viết như sau : "Thuyết luân hồi khởi xuất từ thuở sơ khai luôn luôn lan rộng trong dân gian, được coi là tín ngưỡng phần lớn và cũng là giáo lý của tất cả tôn giáo. Cho đến nay, một phần lớn các dân tộc Á đông không phải Hồi giáo vẫn tin tưởng chắc chắn vào thuyết luân hồi và đời sống thực tế hằng ngày vẫn chịu sâu sắc của thuyết ấy" (Schopenhauer, The World as will and idea, trang 451).
Nhưng thuyết chuyển luân của Đạo Cao Đài không có địa ngục như Ấn giáo, cùng lắm là hoá kiếp thành một trong Bát hồn như Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn.
Nếu tại Cung Tạo Hoá xét thấy linh hồn xứng đáng thì được vào Cung Trí Giác trụ tinh thần mà thành Tiên, cao hơn nữa đến Hư Vô Thiên đắc quả Dà Lam, chờ dự "Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị" ở cõi Hỗn Ngươn Thiên (Kinh Đại Tường).
Con đường cứu rỗi của đạo Cao Đài nếu tính từng bước : Nhập vào hàng tín đồ tu theo Nhơn đạo, rồi bước dần qua hàng Chức sắc Cửu Trùng Đài ( theo Cửu phẩm Thần Tiên) hoặc qua hàng Chức sắc Phước Thiện (Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng). Hai con đường nầy tu theo đường TIỆM NGỘ, tức là từng bước một từ thấp lên cao theo Tân luật, Pháp Chánh Truyền.
Con đường thứ ba là tu tịnh; phải vào tịnh thất, có điều lệ riêng ghi trong Tân Luật, cách tịnh luyện thế nào có thể tìm đọc "Phương luyện kỷ tu theo con đường thứ ba Đại Đạo" (tài liệu do Trương Hiến Pháp cung cấp).
Tu theo con đường nầy gọi là ĐỐN NGỘ. Tín đồ thường cũng có thể vào Tịnh Thất mà giác ngộ ngay, đây là tu tắt cho những ai có căn duyên.
Tu tịnh cần đến sự cố gắng phi thường của cá nhân. Cố gắng là nhân tố rất quan trọng vì không cố gắng theo sự chỉ dẫn của chủ Tịnh Thất thì không thể tự giác ngộ hay đốn ngộ được.
Ngoài ra, cả ba đường tu mà không đạt đến đích cuối cùng thì linh hồn được cứu rỗi theo Kinh Cửu do các Đấng và Cửu Nương đưa lối như đã trình bày ở trên.
Đây cũng là chủ trương mới mẽ của nền Tân tôn giáo, thế thường, người ta nói Hội các bà mẹ bảo trợ trẻ em, chớ không ai dám nói bảo trợ con người, nhưng Cửu Vị Tiên Nương lãnh lịnh Hội Kim Bàn bảo trợ con người, từ lúc hoài thai cho tới chết, rồi cho đến lúc con người đầu thai tái kiếp theo một chu trình kín không ngừng nghỉ, nếu linh hồn chưa qui hồi cựu vị.
Từ khi Đức Phật Mẫu tạo ra hình hài:
Thì:
Để phổ độ 92 ức nguyên nhân và không bỏ sót một ai kể cả hàng Hoá nhân, Quỉ nhân trong các kỳ phổ độ trước còn lại, Hội Kim Bàn đã chia vùng trách nhiệm như sau :
| ❶ Hoa | ➥ Nhứt Nương phổ độ miền Bắc VN |
| ❷ Cẩm Tú | ➥ Nhị nương phổ độ dân Chân Lạp, Cao Miên |
| ❸ Tuyến | ➥ Tam Nương phổ độ miền Trung VN |
| ❹ Gấm | ➥ Tứ Nương phổ độ giới văn chương khoa bảng ở các thành thị Bắc VN |
| ❺ Liễu Hạnh | ➥ Ngũ Nương phổ độ đồng bằng Bắc Phần và Bắc Trung Phần Việt Nam |
| ❻ Huê | ➥ Lục Nương phổ độ miền Đông Nam phần và hoàng tộc nhà Nguyễn, Jeanne d'Arc phổ độ dân Pháp |
| ❼ Lễ | ➥ Thất Nương phổ độ các Thiên sứ và vùng Saigon, Gia Định, miền Đông Nam phần |
| ❽ Hớn Liên Bạch | ➥ Bát Nương phổ độ dân Trung Hoa, Hồ Đề (vua Thiên Sứ) phổ độ dân tộc ít người |
| ❾ Khiết | ➥ Cửu Nương phổ độ miền Tây Nam phần |
Do trên, ta thấy việc phổ độ buổi đầu chú trọng nhiều vào Việt Nam, kế đến Campuchia, Trung Hoa và Pháp.
Việc biết tên các cô là do chính các cô cho biết hoặc cầu cơ học hỏi, Nhứt Nương giáng cơ đêm 14-1-1926 cho biết:
Em cám ơn hai anh, em xin hai anh gắng công học đạo, dưỡng luyện tinh thần, ắt ngày sau đắc đạo" ( Đầu sư Hương Hiếu, Đạo sử xây bàn, Tây Ninh 1967. trang 40)
Các Đấng cũng cho biết Cô Lễ là Thất Nương Diêu Trì Cung, do đó, chữ đầu các bài thài cho ta biết tên các cô.
Tuy nhiên, Bà Jeanne d' Arc giáng cơ xưng là Lục Nương mà trong bài thài thì ghi tên là Huê, như vậy, khi giáng trần trong Kỳ Ba Phổ độ nầy, cô có tên là Huê.
Còn Bát Nương cho câu đầu bài thài : "Hồ Hớn hoa sen trắng nở ngày", rõ ràng Hồ Hớn là họ chớ không phải tên.
Cô Thất Nương cho biết : "- Chị Hớn Liên Bạch, Lục Nương với Nhứt Nương làm thi hay lắm. (Hương Hiếu, sách đã dẫn, trang 6)
Vậy thì Bát Nương tên là Hán Liên Bạch (hoa sen trắng nở ngày), còn Hồ là họ tái kiếp.
Cô Nhị Nương có tên là Cẩm Tú, Đức Cao Thượng Sanh cho biết bà là Nữ Vương của Chân Lạp, mà Nữ Vương Chân Lạp có tên là Cambhupura, đúng ra phiên âm là Cẩm Bửu.
Ta cũng thấy bài Kinh Khi đi về, chữ Kantaca (Kiền trắc) phiên âm ra là Găngtaca (Kinh Lễ), không biết phải do diễn ký viết nhầm hay thợ nhà in xếp chữ nhầm. (phiên âm đúng là Căn-ta-ca).
Tóm lại, tên các cô có 3 cách thiết lập : một là chữ tên đứng đầu câu như Hoa, Lễ, Gấm …..hai là chữ họ đứng đầu câu như Hồ Hớn, ba là chữ phiên âm như Cambhupra hoặc không dịch như Jeanne d'Arc .
Về ngôn từ, có 3 hình thức : cả bài toàn chữ Hán như bài thài Phật Mẫu, nửa Hán nửa Việt như bài thài Nhị Nương, Tam Nương và toàn tiếng Việt như bài thài Nhứt Nương, Tứ Nương, Ngũ Nương.
Về nội dung, ta có thể chia làm hai thể loại : loại một là tự vịnh phong cách như bài thài Phật Mẫu, Tam Nương, Tứ Nương, loại hai là tả tâm sự như bài thài Thất Nương, Cửu Nương.....
Trong buổi Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung lần đầu tiên được tổ chức tại nhà Ông Cao Quỳnh Cư ở địa chỉ: 134 đường Bourdais Sàigòn ngày 15-08-Ất Sửu (dl: 02-10-1925) sau khi Đức Phật Mẫu giáng cơ để lời cảm tạ ba vị:
Thì Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương viết ra 10 bài thi, mỗi vị viết một bài kỹ-niệm buổi Hội Yến Diêu Trì Cung lần đầu ấy.
Mười bài thi nầy về sau được dùng làm 10 bài Thài hiến lễ Đức Phật-Mẫu và Cửu vị Tiên-Nương, mỗi khi tổ chức Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung vào ngày rằm tháng tám âm lịch hằng năm tại Tòa-Thánh, chỉ nơi đây mới được tổ chức Lễ Hội Yến mà thôi.
Bài Thài hiến lễ Đức Phật Mẫu.
1. Bài Thài hiến lễ Nhứt Nương, tên HOÀNG THIỀU HOA (bửu pháp Đàn Tỳ-bà)
2. Bài Thài hiến lễ Nhị Nương (bửu pháp là cái Lư hương)
3. Bài Thài hiến lễ Tam Nương (bửu pháp: Long Tu phiến),
4. Bài Thài hiến lễ Tứ Nương (bửu pháp là Kim Bản)
5. Bài Thài hiến lễ Ngũ Nương (bửu pháp là Xe Như Ý)
6. Bài Thài hiến lễ Lục Nương (bửu pháp là Phướn Tiêu Diêu)
7. Bài Thài hiến Lễ Thất Nương (bửu pháp là Hoa sen)
8. Bài Thài hiến lễ Bát Nương (bửu pháp là Giỏ Hoa lam)
9. Bài Thài hiến lễ Cửu Nương (bửu pháp là Ống Tiêu)
1. Cửu Vị Tiên giáng cơ ngày mùng 8 tháng 8 năm Ất Hợi (dl: 05-09-1935):
2. Cửu Vị Tiên giáng cơ ngày 15-8-Nhâm Ngọ (dl 2-9-1942):
3. Cửu Vị Tiên giáng cơ ngày 15-8-Bính Tuất (dl 9-9-1946):
Xin nhượng bút cho Bát Nương.
Theo sự tiết lộ của Ngài Hồ Bảo Đạo thì từ ngày khai Đạo đến 50 năm (tức 1925-1975) phận sự giáo hóa của Thất Nương, Bát Nương và Cửu Nương.
Kế 50 năm nữa (từ 1975-2025) phận sự giáo hóa của Tứ Nương, Ngũ Nương và Lục Nương.
Rồi 50 năm kế nữa (từ 2025-2075) thì phận sự chánh của Nhứt Nương, Nhị Nương và Tam Nương.