| Column 1 of row 1 | Column 2 of row 1 |
| Column 1 of row 2 | Column 2 of row 2 |
Cổ nhạc
| 古樂 |
| A: Ancient music. |
| P: Musique ancienne. |
| Cổ: Xưa, cũ. |
| Nhạc: âm nhạc. |
Cổ nhạc là âm nhạc cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
Cổ nhạc Việt Nam rất hay, nhưng vì người đời nay ưa chuộng cái mới nên bỏ bê Cổ nhạc, đi học nhạc Tây phương (Tân nhạc) để tỏ ra mình tiến bộ, nhưng không ngờ đó là mất gốc.
Ðáng lý những nhà âm nhạc Việt Nam phải đem cái hay, cái ưu điểm của nhạc Tây phương mà chỉnh đốn Cổ nhạc, làm cho Cổ nhạc tiến lên ngang bằng hay hơn hẳn nhạc Tây phương, thì đó mới là người trí vậy.
Các loại nhạc khí cổ truyền Việt Nam có nhiều thứ, được chia làm hai loại: Văn nhạc và Võ nhạc.
Văn nhạc gồm các nhạc khí phát ra âm thanh réo rắt thanh tao. Văn nhạc có nhiều cây đờn, nhưng 4 cây đờn chánh là: Kìm, Tranh, Cò, Ðộc huyền.
| 1. Ðàn Kìm: được gọi là Nhựt cầm.
(Trước đây, người ta gọi đàn kìm là Nguyệt cầm, nhưng theo nhạc sĩ Nguyễn Văn Ngưu trong quyển Cổ nhạc Tổ truyền Nguyên lý, đổi lại là Nhựt cầm thì đúng hơn). Thùng đờn hình tròn tượng trưng mặt nhựt, bề tròn thùng đờn là 3 thước 6 tấc 5 phân (thước ta) án theo số ngày trong năm, hai dây là Lưỡng nghi, 4 trục tượng trưng Tứ Tượng, 8 phiếm tượng trưng Bát quái, hoặc tượng trưng Bát hồn. |
| 2. Ðàn Tranh: gọi là Bán Nguyệt cầm, vì thùng đờn có hình cong như mặt trăng khuyết, bề dài 3 thước 6 tấc 5 phân, đầu lớn bề ngang 8 tấc tượng trưng Bát quái, đầu nhỏ bề ngang 4 tấc, tượng trưng 4 mùa, có 16 dây, nên còn gọi là Thập lục huyền cầm. |
| 3. Ðàn Cò: gọi là Tinh cầm, còn có tên là Hạc cầm vì cái mỏ cần đờn có hình mỏ chim hạc, cũng gọi là Hồ cầm vì đờn nầy có xuất xứ từ Ðộng Ðình Hồ. |
| 4. Ðàn Ðộc huyền: còn được gọi là đàn Bầu, chỉ có một dây đàn, trống đàn là một khúc gỗ đục rổng, thường có kích thước: dài 1m20, ngang 0m12, cao 0m16. |
Ngoài ra còn nhiều loại đàn khác thuộc Văn nhạc như: Ðàn Tỳ bà, đàn Tam (3 dây), đàn Tứ hay đàn Ðản (4 dây), các thứ ống sáo, tiêu, địch, sinh, v.v...
Võ nhạc: gồm các nhạc khí phát ra âm thanh mạnh mẽ, hùng hồn, kể ra sau đây:
Cổ nhạc Việt Nam có tất cả 20 bản tổ, chia ra 4 loại: 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc), kể ra:
| 1. Bảy bài Ðông (hướng Ðông):
Ở vào mùa Hạ, nên thường gọi là 7 bài Hạ, giọng nhạc bực tức, hùng hồn. Nhạc sĩ đờn 7 bài nầy day mặt về hướng Ðông. Bảy bài Hạ, gồm: Xàng Xê, Ngũ Ðối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc. Ý nghĩa như sau:
|
| 2. Ba bài Nam:
Ở vào mùa Thu, giọng nhạc trầm buồn ai oán. Nhạc sĩ đờn 3 bài nầy thì day mặt về hướng Nam. Ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Ðảo Ngũ Cung.
Ba bài Nam nầy có 4 giọng đờn khác nhau tùy theo 4 mùa (Tứ quí: Xuân, Hạ, Thu, Ðông) kể ra:
|
| 3. Sáu bài Bắc:
Ở vào mùa Xuân, giọng nhạc vui tươi. Nhạc sĩ đờn 6 bài nầy thì day mặt về hướng Bắc. Sáu bài Bắc gồm:
|
| 4. Bốn bài Tây:
Thường gọi là 4 bài Oán, ở vào mùa Ðông, giọng nhạc hiền hòa, non nước thanh bình. Nhạc sĩ đờn 4 bài nầy thì day mặt về hướng Tây. Bốn bài Oán gồm:
|