Click here to sort by Book Click here to sort by Author Click here to read previous Book Click here to read next Book
Column 1 of row 1 Column 2 of row 1
Column 1 of row 2 Column 2 of row 2
↻ Close
ID36039 - Chương : Cửu vị Tiên Nương - Cửu vị Nữ Phật
dictionary : Cao Đài Tự Điển - Van C
Tác Giả : Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (1940-2005) Bút hiệu Đức Nguyên

Cửu vị Tiên Nương - Cửu vị Nữ Phật  

Cửu vị Tiên Nương - Cửu vị Nữ Phật
九位仙娘 - 九位女佛
Cửu: Chín, thứ chín.
Vị: Ngôi, lời tôn kính để gọi một người.
Tiên Nương: Cô Tiên.
Nữ Phật: Vị Phật phái Nữ.

Cửu vị Tiên Nương là chín vị Nữ Tiên nơi Diêu Trì Cung hầu cận Ðức Phật Mẫu.

"Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về Cơ giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là Ðấng cầm đầu.

Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại cung Nam hải, ở An Nhàn động. Còn Diêu Trì Cung thì ở Tạo Hóa Thiên." (Trích Luật Tam Thể)

Cửu vị Tiên Nương đứng hàng Tiên vị, nhưng theo 5 nấc thang tiến hóa của nhơn hồn (Nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật) thì Tiên vị còn phải tiến hóa lên Phật vị.

Cửu vị Tiên Nương đã lập được nhiều công quả trong thời kỳ khai Ðạo, dẫn dắt các nguyên căn đi vào đường đạo đức để làm tướng soái cho Ðức Chí Tôn khai Ðạo,

Lại dày công giáo hóa Nữ phái nên Cửu vị Tiên Nương được thăng lên hàng Phật vị và được gọi là: Cửu vị Nữ Phật.

Nhiệm vụ của mỗi Tiên Nương nơi cõi Thiêng Liêng như sau:

1. Nhứt Nương:

Nhứt Nương cầm bửu pháp là đờn Tỳ bà.

Cai quản vườn Ngạn Uyển nơi từng Trời thứ nhứt trong Cửu Trùng Thiên, đón tiếp các chơn hồn qui Thiên đi lên Cửu Trùng Thiên, xem xét các nguyên nhân đang còn sống nơi cõi trần hay đã qui liễu.

Mỗi đoá hoa trong vườn Ngạn Uyển là một chơn linh. Khi chơn linh tái kiếp xuống trần thì hoa nở, khi qui liễu thì hoa héo tàn, khi chơn linh làm điều đạo đức thì sắc hoa tươi thắm, còn làm điều gian ác thì sắc hoa ủ dột xấu xí.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Nhứt Nương có tên là HOA. Do đó, khi Nhứt Nương giáng cơ cho thi thì có chữ HOA đứng đầu bài thi.

HOA ngào ngạt mùi hương tỏa kín,
Cảm lòng thành điện Thánh nương về.
Khuyên đời mau tỉnh giấc mê,
Lo tu sau khỏi não nề kiếp duyên.

2. Nhị Nương:

Nhị Nương cầm bửu pháp Lư hương.

Cai quản vườn Ðào Tiên của Ðức Phật Mẫu ở từng Trời thứ nhì trong Cửu Trùng Thiên, đón tiếp và hướng dẫn các chơn hồn đi lên từng Trời thứ nhì;

Vào vườn Ðào Tiên, mở tiệc rót rượu trường sanh đãi các chơn hồn, rồi đưa chơn hồn lên Ngân Kiều, có lằn Kim quang đỡ chơn hồn đi lên từng Trời thứ ba.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Nhị Nương có tên là CẨM, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ CẨM đứng đầu bài thi:

CẨM tịch Diêu Cung Tiên vị đắc,
Hạnh phùng vũ lộ sắc Thiên ban.
Ðầy vơi vui hưởng kiếp nhàn,
Ngảnh trần có khác chi tràng mộng xuân.

3. Tam Nương:

Tam Nương cầm bửu pháp là quạt Long Tu Phiến.

Đón tiếp các chơn hồn lên từng Trời thứ ba là Thanh Thiên, dùng thuyền Bát Nhã đưa các chơn hồn đi qua biển khổ sang bờ giác ngộ, qui hồi cựu vị.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tam Nương có tên là TUYẾN, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ TUYẾN đứng đầu bài thi:

TUYẾN nghiệp phàm vô vị,
Ðạo khai dĩ định kỳ.
Hồng ân chan rưới mấy khi,
Bến mê há để lỡ thì độ sanh.

4. Tứ Nương:

Tứ Nương cầm bửu pháp Kim Bảng.

Đón tiếp các chơn hồn lên từng Trời thứ tư là Huỳnh Thiên, làm giám khảo tuyển chọn các văn tài trong mỗi khoa thi, ai hiền đức và tài giỏi thì

Tứ Nương hộ trì cho thi đậu, để đem tài năng ra giúp đời.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tứ Nương có tên là GẤM, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ GẤM đứng đầu bài thi:

GẤM thêu hoa càng nhìn càng đẹp,
Ðức thêm tài chẳng hẹp đường tu.
Mặc người lên võng xuống dù,
Lợi danh xạo xự thiên thu lỡ làng.

5. Ngũ Nương:

Ngũ Nương cầm bửu pháp là cây Như Ý.

Tiếp dẫn các chơn hồn lên từng Trời thứ 5 là Xích Thiên trong Cửu Trùng Thiên. Nơi đây, chơn hồn được hướng dẫn đến Minh Cảnh Ðài để xem rõ ràng các việc làm tội phước trong kiếp sanh nơi cõi trần;

Rồi đến cung Ngọc Diệt Hình để mở quyển Kinh Vô Tự, xem quả duyên của mình.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Ngũ Nương có tên là LIỄU, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ LIỄU đứng đầu bài thi:

LIỄU chiều gió xung xăng màn hạnh,
Như để lời cửa Thánh nhắn tin.
Ðạo tâm xin gắng vẹn gìn,
Ðọa thăng hai lẽ nơi mình liệu toan.

6. Lục Nương:

Lục Nương cầm bửu pháp là Phướn Tiêu diêu hay Phướn Truy hồn.

Tiếp đón các chơn hồn lên từng Trời thứ sáu là Kim Thiên, hướng dẫn đến cung Vạn Pháp cho chơn hồn xem rõ cựu nghiệp của mình;

Rồi chơn hồn lãnh Kim sa, được chim Khổng Tước đưa lên Ðài Huệ Hương xông thơm chơn thần, có nhạc Thiên thiều trổi đưa chơn hồn đi lên.

Trong một kiếp giáng trần ở nước Pháp. Lục Nương là Thánh Nữ Jeanne d"Arc (1412-1431), đã đánh đuổi quân xâm lăng Anh quốc để cứu nước Pháp.

Sau đó, Lục Nương giáng trần ở Việt Nam, tên là HUỆ, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ HUỆ đứng đầu bài thi:

HUỆ ân chan khắp toàn nhơn loại,
Vào đường tu phỉ toại kiếp sanh.
Lánh nơi tranh đấu giựt giành,
Nghiệt oan khỏi vướng thân danh vẹn phần.

7. Thất Nương:

Thất Nương cầm bửu pháp là Hoa sen.

Tiếp đón các chơn hồn đến từng Trời Hạo Nhiên Thiên bái kiến Ðức Chuẩn Ðề Bồ Tát và Ðức Phổ Hiền Bồ Tát.

Thất Nương lại để lòng từ bi, tình nguyện lãnh lịnh Ngọc Hư Cung xuống cõi Âm Quang giáo hóa các Nữ tội hồn cho họ sớm thức tỉnh, để được tái kiếp trả xong căn quả và tu hành.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Thất Nương có tên là VƯƠNG THỊ LỄ, sanh năm 1900 tại Chợ Lớn, là con gái của ông Vương Quan Trân và Bà Ðỗ thị Sang (con của Tổng Ðốc Ðỗ Hữu Phương).

Cô Lễ bị bạo bệnh mất năm Cô 18 tuổi. (Xem chi tiết nơi chữ Thất Nương, vần Th).

Thất Nương thường giáng cơ dạy Ðạo và cho thi. Khi giáng cơ cho thi, Cô thường đặt chữ LỄ đứng đầu bài thi:

LỄ văn đủ định phân khách trí,
Hạnh đức toàn xứng vị Thánh nhân.
Cõi trần là chốn mê tân,
Dìu nhau lánh giả tầm chân tiếc gì.

8. Bát Nương:

Bát Nương cầm bửu pháp là Giỏ Hoa Lam.

Tiếp đón các chơn hồn đến từng Trời Phi Tưởng Thiên, từng thứ tám trong

Cửu Trùng Thiên, hướng dẫn chơn hồn đến bái kiến Ðức Từ Hàng Bồ Tát.

Bát Nương rất thường giáng cơ dạy Ðạo và cho thi.

Bài Phật Mẫu Chơn Kinh mà chúng ta thường tụng khi cúng Ðức Phật Mẫu do Bát Nương giáng cơ ban cho tại Báo Ân Ðường Kim Biên, khi Ðức Phạm Hộ Pháp phò cơ tại đó.

Bát Nương giáng trần nơi nước Trung Hoa, vào thời nhà Tây Hán, tên là Bạch Liên (Hoa sen trắng). Bát Nương cũng có giáng trần ở Việt Nam vào nhà họ Hồ.

SEN TRẮNG vóc tinh vi đảnh Hớn,
Nêu tiết trong soi sáng tài hoa.
Ðể lời nhủ bạn quần thoa,
Kiên trinh liệt nữ phẩm nhà chớ quên.

9. Cửu Nương:

Cửu Nương cầm bửu pháp Ống tiêu.

Tiếp đón các chơn hồn lên từng Trời Tạo Hóa Thiên để đưa vào bái kiến Ðức Phật Mẫu, được Phật Mẫu ban cho đào hạnh và rượu Tiên.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, tỉnh Bạc Liêu, Cửu Nương tên là Cao Thị Khiết (tên giấy tờ là Kiết), con của ông Ðốc Phủ Cao Minh Thạnh và Bà Tào Thị Xúc.

Cô là con gái út thứ 9. (Xem chi tiết nơi chữ: Cửu Nương). Khi giáng cơ cho thi, Cô thường đặt chữ Khiết đứng đầu bài thi:

KHIẾT kỷ tu chơn duyên quả định,
Xả thân vị Ðạo đắc Thiên ân.
Lâng lâng giũ sạch bụi trần,
Cứu nhân độ thế phước phần hậu lai.

Tóm lại, Cửu vị Tiên Nương trông nom về Cơ giáo hóa vạn linh.

Tất cả nghề hay nghiệp khéo, về Nữ công hoặc Cầm, Kỳ, Thi, Họa hay Văn chương Triết học đều thuộc phần nhiệm của Cửu vị Tiên Nương giáo hóa và un đúc cho thành tài.

Ngày nay thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Cửu vị Tiên Nương đã đắc thành Nữ Phật, nhưng khi cúng Ðức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ hay tại Ðiện Thờ Phật Mẫu, chúng ta vẫn niệm: "Nam mô Cửu vị Tiên Nương" là để ghi nhớ công đức của Chín Cô trong thời kỳ khai Ðạo Cao Ðài.

TẢ CHÍN VỊ TIÊN NỮ
Một mày liễu trong ngần đóa ngọc,
Hai má đào phải trọng tiết trinh.
Mảnh thân trọn hiếu thâm tình,
Phải hình thục nữ, phải gìn căn duyên.
Ba yểu điệu thuyền quyên vóc hạc,
Bốn mỹ miều đài các trâm anh.
Khi vui bóng nguyệt rọi mành,
Khi dòng bích thủy, khi cành hoa xuân.
Năm phận gái hồng quần đáng mặt,
Sáu vẹn toàn quốc sắc Thiên hương.
Vào ra phụng trướng loan đường,
Vào ra ngọc các cẩm tường xem hoa.
Bảy trau chuốt thân ngà mặt ngọc,
Tám, Chín phần rèn tập nữ nhi.
Chung lo mối Ðạo Tam Kỳ,
Giúp nhà Nam Việt kịp thì Long Hoa.
BÁT NƯƠNG
(Ðêm 25-4-Canh Dần, 1950)
(Trích trong Luật Tam Thể)

Ngoài 9 bài thi dùng làm bài thài hiến lễ Cửu vị Tiên Nương trong lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, Cửu vị Tiên Nương còn giáng cơ cho rất nhiều thi văn dạy đạo.

Sau đây, xin trích ra một số bài có đủ 9 vị Tiên Nương giáng cơ.

THI VĂN của CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG

Ngày mùng 8 tháng 8 năm Ất Hợi (dl 5-9-1935)

CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG
HOA tiên đỗ đẹp xinh Văn miếu,
Gót Tiên đưa yểu điệu nữ dung.
Cung Diêu ghé mắt thư hùng,
Reo tơ may gặp hội cùng tương tri.
NHỨT NƯƠNG
 
CẨM chức dệt câu thi biệt khách,
Bút Tiên nay vẽ nét tri hoan.
Xe mây lướt dặm trần hoàn,
Dòm theo nỗi khổ đôi hàng lệ sa.
NHỊ NƯƠNG
 
TUYẾN kim đưa khách chưa hòa,
Mượn gương bạch thố rọi nhà tri âm.
Ngân kiều cách bức bao năm,
Ướm buông lời ngọc hỏi trần vui chưa?
TAM NƯƠNG
 
GẤM Tô Huệ ngày xưa đề thảm,
Nét Tiên hoa sầu đạm vân phong.
Kìa thương những khách má hồng,
Ðẹp xinh tô đậm bụi nồng thế gian.
TỨ NƯƠNG
 
LIỄU yếu ớt những lo gió dội,
Có mảnh thân e nỗi khổ thân.
Riêng lo tài sắc hồng quần,
Không nhơ bợn tục, nợ trần lánh chơn.
NGŨ NƯƠNG
 
HUỆ trí định Tiên phàm đôi lẽ,
Cửa không môn mới nhẹ tiền duyên.
Phất phơ đưa phướn diệu huyền,
Trông vơi thấy khách cửu tuyền rậm chơn.
LỤC NƯƠNG
 
LỄ kỉnh để mấy chương tiết nghĩa,
Vô tự đề cửa tía chứa chan.
Trăm cay là phép tạo nhàn,
Có phong ba mới dựa hàng trượng phu.
THẤT NƯƠNG
 
SEN thì ở nơi hồ quán trược,
Công thì hay định phước vinh ba.
Non Thần nhắn bạn đường xa,
Ðường tu khổ hạnh mới là cao siêu.
BÁT NƯƠNG
 
KHIẾT tính nết thanh liêm là trọng,
Phép tu thân nhớ lóng là hơn.
Chuông mai dập thức mê hồn,
Cung Tiên mới đặng rửa hờn kiếp sanh.
CỬU NƯƠNG

Ngày 15-8-Nhâm Ngọ (dl 2-9-1942):

NHỨT khí tạo đoan cả địa cầu,
NƯƠNG theo Mẹ Cả giảng vài câu.
KÍNH dâng tam bửu hằng năm vẹn,
TẶNG lễ mừng thầm đắc chẳng lâu.
 
NHỊ Châu Chơn Võ nhớ cùng không,
NƯƠNG cõi Thiên cung gởi bóng hồng.
KÍNH tặng vài câu mừng bạn cũ,
TẶNG người hiếu hạnh chịu phòng không.
 
TAM kỳ khai mở Ðạo lần ba,
NƯƠNG náu ít lâu rõ báu hòa.
KÍNH lượng bề trên ban đức tánh,
TẶNG người tài trí hứng Ðài Cao.
 
TỨ đức vẹn toàn mới xứng danh,
NƯƠNG hơi nhang khói chỉ điều lành.
KÍNH mừng quí vị ân cần tịnh,
TẶNG khách nâu sồng diệt quới khanh.
 
NGŨ hành vận chuyển đoạt Huyền Thiên,
NƯƠNG níu đôi năm khỏe tự nhiên.
KÍNH có công tu nay gặp hội,
TẶNG người hữu hạnh phục qui nguyên.
 
LỤC lạc khua ran cả Ngũ châu,
NƯƠNG chi vật chất phải u sầu.
KÍNH xin tỉnh giấc lo tu sớm,
TẶNG quyết cầu ân cổi ách sầu.
 
THẤT thế náo nương chớ tưởng lâu,
NƯƠNG cùng quí vị chỉ đường cầu.
KÍNH đem đến tận bờ dương liễu,
TẶNG nghĩa đài sơn kẻ chực chầu.
 
BÁT vu hành khất bữa mơi chiều,
NƯƠNG nưởng mình to giống kẻ thiêu.
KÍNH đến Tây phương tầm Xá lợi,
TẶNG tình đồng Ðạo phải đồng yêu.
 
CỬU Thiên mở cửa rước người hiền,
NƯƠNG chí dắt dìu khách hữu duyên.
KÍNH lập công to qui cựu vị,
TẶNG tiền phát khởi lập căn nguyên.

Ngày 15-8-Bính Tuất (dl 9-9-1946):

Nhẫng ngồi giữ huỳnh hoa Ngạn Uyển,
Mà quên nghe đặng tiếng vĩnh sanh.
Dọn đường lều cỏ chòi tranh,
Tay nương con gậy một mình trông vơi.
NHỨT NƯƠNG
 
Trông động cũ màu trời biến sắc,
Trông cung nga thiếu mặt từ quân.
Trông xa đảnh Thánh non Thần,
Trông Ðền Ngọc Khuyết vắng phần Thiên lương.
NHỊ NƯƠNG
 
Nay đầm ấm con đường hạnh phúc,
Cõi phong trần gội chút hồng ân.
Tiêu diêu phai lợt mùi trần,
Tỉnh say với giọt nước ngần tẩy mê.
TAM NƯƠNG
 
Tưởng tròn phận tô xuê đảnh Việt,
Nương thuyền từ cứu tuyệt trần ai.
Ðường quê nào thấy Thiên Thai,
Công trình lập đặng Vân đài chí công.
TỨ NƯƠNG
 
Mở rộng cửa đại đồng vạn chủng,
Khai nẻo sanh cứu sống nhơn gian.
Trị tâm mở mắt song quang,
Khai đường Cực Lạc, mở đàng Lôi Âm.
NGŨ NƯƠNG
 
Ðưa gương rạng Quan Âm dẫn thế,
Diệt mê hồn tồi tệ kiếp căn.
Cam lồ rửa sạch phong trần,
Gương xưa để bước đi lần cảnh thăng.
LỤC NƯƠNG
 
Nào dè phép quỉ toan cải chánh,
Mượn quyền yêu so sánh Chí Linh.
Ðem thân lữ thứ làm binh,
Cầm gươm huệ chặt tan tành cung thương.
THẤT NƯƠNG
 
Hỡi nào kẻ lo lường nghiệp Ðạo,
Hỡi những trang nóng máu anh phong.
Ngôi Thiên để tựa bóng hồng,
Phục hưng gầy nghiệp con Rồng cháu Tiên.
BÁT NƯƠNG
 
Gầy sự nghiệp tổ tiên ngày trước,
Dựng miếu đường hưởng phước tự do.
Mảng trông bến cũ đưa đò,
Chơn quân lương tể gây trò vinh phong.
CỬU NƯƠNG.
 
Xin nhượng bút cho Bát Nương.
Ðào nguyên lại trổ trái hai lần,
Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân.
Cung Ðẩu vít xa gươm xích quỉ,
Thiềm cung mở rộng cửa Hà ngân.
Xuân Thu định vững ngôi lương tể,
Phất Chủ quét tan lũ nịnh thần.
Thổi khí vĩnh sanh lau xã tắc,
Mở đường quốc thể định phong vân.
BÁT NƯƠNG

More topics .. .
Message