| Column 1 of row 1 | Column 2 of row 1 |
| Column 1 of row 2 | Column 2 of row 2 |
Phiền não
| 煩惱 |
| A: Sorrow, Passions. |
| P: Tristesse, Passions. |
| Phiền: Việc nhiều và phức tạp, buồn rầu. |
| Não: buồn rầu. |
Nghĩa thông thường: Phiền não là buồn rầu bực bội. Tâm lo buồn vọng động, thân xao xuyến bất an, gọi là Phiền não.
Thánh Ngôn Hiệp Tuyển: Mong trau rạng mảnh gương để soi chung bước đàng sau mà lần đến cảnh tự tại thung dung, tránh bớt muôn điều phiền não.
Nghĩa theo Phật giáo: Phiền não là các mê dục, lầm lạc, xao xuyến, gây ra bởi ba mối chánh là: Tham, Sân, Si, khiến cho thân, khẩu, ý làm việc bậy bạ, gây ra tội tình mà phải chịu đau khổ về sau.
Như thế, ba mối chánh là: Tham, Sân, Si, đã gây ra những Phiền não lớn nhứt của chúng sanh.
Theo lời Phật giảng trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, phiền não là giặc nghịch làm hại chúng sanh.
Muốn tránh khỏi sự hại của nó, cần phải tu thanh tịnh nghiệp, tức là ba nền phước để đưa về cõi Tịnh độ:
Người ta khi chưa minh tâm kiến tánh, còn ở trong vòng tham, sân, si, thì bị phiền não sai khiến. Tới chừng thấu đạo, giác ngộ, liền dứt phiền não.
Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Đức Lục Tổ Huệ Năng có giải rằng:
Tùy theo kinh luận, ta thấy Phiền não có nhiều thứ:
Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác kiến (ganh, ghét, tin bậy, tưởng quấy).
Trong 10 phiền não trên, 5 phiền não trước là của hạng người chậm lụt, 5 phiền não sau là của hạng người lanh lẹ.
Thực ra, Tứ Phiền não, Lục Phiền não hay Thập Phiền não cũng chỉ là sự mở rộng của 3 mối Phiền não chánh là: Tham, Sân, Si mà thôi. (Theo Phật Học Từ Điển của Đoàn T. Còn)