| Column 1 of row 1 | Column 2 of row 1 |
| Column 1 of row 2 | Column 2 of row 2 |
Trung đạo
| 中道 |
| A: The middle way. |
| P: La voie moyenne. |
| Trung: Giữa, ở giữa, ở trong. |
| Đạo: con đường. |
Trung đạo là con đường tu ở giữa, tránh cả hai cực đoan: một bên là đắm say thú vui thể xác (lợi dưỡng) và một bên là ép xác khổ hạnh.
Cả hai cực đoan nầy đều sai lầm, cần phải tránh, nếu thực tâm muốn cầu đạo giải thoát.
Con đường Trung đạo do Đức Phật Thích Ca tìm ra.
"Sau 6 năm tự bản thân kinh nghiệm, đạo sĩ Sĩ Đạt Ta đã nhận thức chắc chắn rằng lối tu khổ hạnh không thể đem lại lợi ích, mặc dầu các triết gia và các tu sĩ thời bấy giờ quả quyết rằng đó là nếp sống tối cần thiết để đạt tới cứu cánh.
Thấy rằng khổ hạnh chỉ làm giảm suy trí thức và mệt mỏi tinh thần, Ngài liền dứt khoát từ bỏ lối tu ấy, cũng như trước kia, Ngài đã từ bỏ lối sống lợi dưỡng, chỉ làm chậm trễ tiến bộ đạo đức.
Ngài chọn con đường độc lập, một phương tiện vàng son mà về sau sẽ trở thành một trong những đặc điểm của giáo lý của Ngài.
Ngài nhớ lại buổi lễ Hạ điền kia, khi còn thơ ấu, trong lúc vua cha và mọi người chăm chú cử hành các cuộc vui, Ngài đã ngồi dưới bóng mát của một cây trâm, tham thiền nhập định và đắc Sơ Thiền. Ngài sực nhớ lại rằng đó mới thật là con đường dẫn đến Giác ngộ.
Ngài nhận định rằng, với tấm thân mòn mỏi không thể hoàn toàn sáng suốt, một sức khỏe thích nghi rất cần thiết để đạt tiến bộ tinh thần, nên nhứt định không nhịn đói nữa, mà dùng những vật thực thô sơ.
Năm vị tu sĩ thân tín (nhóm Kiều Trần Như) bấy lâu nay theo hầu cận Ngài, với bao nhiêu hy vọng, nay thấy Ngài đột ngột thay đổi phương pháp tu tập như vậy thì lấy làm thối chí, bỏ đi đến Vườn Lộc Giả và nói rằng:
- Đạo sĩ Sĩ Đạt Ta đã trở lại ưa thích xa hoa, đã ngừng cố gắng và đã quay về đời sống lợi dưỡng.
Trong lúc quyết định quan trọng như vậy, sự trợ giúp bên ngoài thật vô cùng khẩn thiết. Chính lúc ấy những người bạn đồng tu với Ngài lại bỏ ra đi, nhưng Ngài không ngã lòng.
Một mình trong cảnh cô đơn, giữa chốn rừng sâu, các bực vĩ nhân thường chứng ngộ những chơn lý cao siêu thâm diệu và giải quyết được những vấn đề phức tạp khó khăn.
Sau khi độ thực, đạo sĩ Sĩ Đạt Ta phục hồi sức khỏe. Ngài dễ dàng nhập Sơ Thiền, từng Thiền mà Ngài đã thành đạt trong buổi thiếu thời. Rồi từ đó, dần dần Ngài nhập Nhị Thiền, rồi Tam Thiền và Tứ Thiền.
Khi nhập Thiền, tâm Ngài an trụ vào một điểm, lắng dịu trong sáng như mặt gương bóng láng mà mọi vật đều có thể phản chiếu một cách vô cùng trung thực.
Rồi tư tưởng trở nên lắng dịu, tinh khiết, không còn tham ái và ô nhiễm, dễ uốn nắn, sẵn sàng hay biết, vững chắc không thể lay chuyển, Ngài hướng tâm về Huệ Giác có liên quan đến sự nhớ lại những kiếp quá khứ: Túc Mạng Minh.
Ngài nhớ lại nhiều kiếp quá khứ như thế nầy: đầu tiên một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, rồi bốn, năm, mười, hai mươi, năm mươi rồi đến một trăm, một ngàn, một trăm ngàn kiếp, rồi sự phân tán của nhiều châu kỷ thế gian, rồi sự phát triển của nhiều châu kỷ thế gian, rồi cả hai sự phân tán và sự phát triển của nhiều châu kỷ thế gian.
Ở đây Ngài tên gì, sanh trưởng trong gia đình nào, giai cấp nào, vui thích và đau khổ thế nào, và chết cách nào. Từ cảnh ấy ra đi, Ngài tái sanh vào cảnh nào...... Như thế, Ngài hồi nhớ cách thức tái sanh và nhiều chi tiết về những kiếp sống quá khứ.
Đây hẳn vậy, là Huệ Giác đầu tiên mà Ngài chứng ngộ lúc canh một đêm thành đạo.
Đã phá tan lớp màn vô minh có liên quan đến quá khứ, Ngài hướng tâm thanh tịnh về sự Tri Giác hiện tượng Diệt và Sanh của chúng sanh.
Với huệ nhãn tinh khiết và siêu phàm, Ngài nhận thấy chúng sanh chết từ kiếp nầy, tái sanh vào một kiếp sống khác. Ngài chứng kiến cảnh tượng kẻ sang người hèn, kẻ đẹp người xấu, kẻ hạnh phúc người khốn khổ, tất cả đều trải qua Diệt và Sanh, tùy hành vi tạo tác của mỗi người.
Ngài biết rằng những người nầy, do hành động, lời nói và tư tưởng xấu xa, nguyền rủa bực thiện trí cao thượng, tin tưởng không chơn chánh và có nếp sống của người tà kiến, sau khi thể xác chết và phân tán, đã tái sanh vào những trạng thái khổ não.
Ngài biết rằng những người kia, do hành động, lời nói và tư tưởng tốt đẹp, không nguyền rủa bậc thiện trí cao thượng, tin tưởng chơn chánh và có nếp sống của người chánh kiến, sau khi thể xác chết và phân tán, đã tái sanh vào những cảnh trời an vui hạnh phúc.
Như vậy, với Thiên nhãn minh, Ngài mục kích sự phân tán và sự cấu hợp trở lại của chúng sanh.
Đây hẳn là Huệ Giác thứ nhì mà Ngài chứng ngộ trong canh hai đêm thành đạo.
Đã phá tan lớp vô minh có liên quan đến tương lai, Ngài hướng tâm thanh tịnh về Huệ Giác chấm dứt các pháp trầm luân.
Tùy trường hợp, Ngài nhận thức: đây là phiền não, đây là sự chấm dứt phiền não, đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt phiền não. Cùng một thế ấy, Ngài nhận định: đây là ô nhiễm, đây là sự chấm dứt ô nhiễm, đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt ô nhiễm.
Nhận thức như thế, tâm Ngài giải thoát ra khỏi dục lậu (ô nhiễm của dục vọng), hữu lậu (ô nhiễm của sự luyến ái đời sống) và vô minh lậu (ô nhiễm của vô minh).
Được giải thoát, Ngài biết rằng: Ta đã được giải thoát và Ngài nhận thức: Tái sanh đã chấm dứt, đời sống Phạm hạnh đã được viên mãn, đã làm xong những việc phải làm, không còn trở lại trạng thái nầy nữa.
Đây là Huệ Giác thứ ba mà Ngài đã chứng ngộ trong canh ba đêm thành đạo. Màn vô minh đã được giải tỏa và Trí Huệ phát sanh, đêm tối đã tan và ánh sáng đến." (Theo Đức Phật và Phật pháp của Narada)
Đức Phật Thích Ca thành đạo rồi thì Ngài nghĩ rằng nên tìm đến nhóm Kiều Trần Như gồm 5 ông để thuyết bài pháp đầu tiên để cho 5 ông giác ngộ.
Trong bài pháp đầu tiên cực kỳ quan trọng nầy, Đức Phật đưa ra con đường Trung đạo mà Ngài đã khám phá ra, đưa đến kết quả cụ thể là Ngài nhờ tu theo Trung đạo mà đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác.
Mở đầu bài pháp, Đức Phật khuyên năm ông nên xa lánh hai lối tu cực đoan: lợi dưỡng và khổ hạnh, bởi vì cả hai lối tu đều không thể dẫn đến trạng thái tịch tịnh và chánh giác.
Đức Phật chỉ trích cả hai lối tu, vì chính bản thân Ngài đã tích cực sống qua hai lối tu cực đoan ấy, kinh nghiệm được rằng cả hai đều không dẫn đến mục tiêu cứu cánh.
Rồi Ngài vạch ra con đường Trung đạo, là con đường vô cùng thực tiễn, hợp lý và hữu ích, là con đường duy nhứt dẫn đến sự trong sạch hoàn toàn và giải thoát hoàn toàn.
Cực đoan lợi dưỡng là luyến ái nhục dục, ngũ trần. Cực đoan nầy thấp hèn thô bỉ, phàm tục, không xứng với phẩm hạnh của bực Thánh nhân.
Không nên hiểu lầm rằng, Đức Phật mong muốn các tín đồ từ bỏ mọi thú vui vật chất, rút vào rừng sâu mà không thọ hưởng đời sống.
Dầu ai đắm say nhục dục và có ảo giác thế nào nhưng đối với người điềm đạm suy nghĩ thì thấy rõ khoái lạc vật chất thật ngắn ngủi, không khi nào được thỏa mãn trọn vẹn, và chỉ đưa đến hậu quả chán chường.
Bực xuất gia chơn chánh không khi nào muốn tìm thích thú trong việc chạy theo những khoái lạc tạm bợ nầy.
Trái với cực đoan lợi dưỡng là cực đoan khổ hạnh.
Cực đoan khổ hạnh là một nổ lực kiên trì trong lối tu khổ hạnh. Đó là phương pháp đau khổ, không xứng phẩm hạnh của bực Thánh nhân.
Không giống với hai cực đoan trên, con đường Trung đạo đem lại sự giác ngộ tinh thần và trí tuệ minh mẫn, thấy được thực tướng của sự vật. Khi tinh thần lắng dịu được sáng tỏ thì trí tuệ được khai thông, mọi vật đều hiện ra trong cảnh thực sự của nó.
Hơn nữa, không giống với hai cực đoan trên chỉ khích động dục vọng, con đường Trung đạo nầy chế ngự mọi thèm khát vật chất và do đó dẫn đến sự thấu triệt Tứ Diệu Đế và sau cùng là chứng ngộ được mục tiêu tối hậu: Niết Bàn.