| Column 1 of row 1 | Column 2 of row 1 |
| Column 1 of row 2 | Column 2 of row 2 |
Kinh Cúng Tứ Thời: Kinh Nho giáo.
| KINH: | GIẢI NGHĨA: |
| 1. Quế Hương nội điện, Văn Thỉ thượng cung. | Ở trong Ðiện Quế Hương, Phía trên hết là Cung Văn Thỉ, nơi thường ngự của Ðức Khổng Tử. |
| 2. Cửu thập ngũ hồi, Chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố. | 95 lần giáng sanh xuống cõi trần rồi trở về, Gieo trái lành nơi vườn thơ văn kinh sách. |
| 3. Bá thiên vạn hóa, Bồi quế thọ ư Âm chất chi điền. | Trăm ngàn muôn lần biến hóa, Vun bồi cây quế nơi ruộng phước đức. |
| 4. Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh. | Văn tự chế thành thì có sấm nổ, văn tự như có chứa ngọn lửa để soi sáng và ghi chép kiến thức, kinh nghiệm của người xưa, nên linh như chim phụng trên núi. |
| 5. Chí như ý từ, tường ư ngao trụ. | Ðến như cái ý tưởng thương yêu chúng sanh, tốt lành như ở núi Ngao trụ. |
| 6. Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi hiếu. | Sự khai mở cái Tâm của con người ắt hẳn gốc ở tại sự hết lòng hiếu thảo với cha mẹ. |
| 7. Thọ quốc mạch tất tiên ư trí chúa chi trung. | Sự vững bền của quốc gia ắt hẳn trước tiên ở tại sự hết lòng trung thành với nước. |
| 8. Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ. | Ðức Khổng Tử có lòng nhơn từ thương người khổ nạn nên thường chiêm bao thấy Ông Châu Công Ðán dạy nhiều điều bảo tồn sự sống cho nhơn sanh. |
| 9. Ðại nhơn, Ðại hiếu, Ðại Thánh, Ðại từ. | Lòng nhơn lớn, lòng hiếu lớn, Bực Thánh lớn, đức từ bi lớn. |
| 10. Thần văn, Thánh võ, Hiếu Ðức Trung Nhơn. | Văn võ song toàn tài giỏi tột bực, Có đủ 4 đức: Hiếu, Ðức, Trung, Nhơn. |
| 11. Vương tân sách phụ. | Thượng khách của vua, thường bày kế hoạch giúp vua. |
| 12. Nho tông khai hóa. | Ðạo Nho mở ra giáo hóa nhơn sanh. |
| 13. Văn Tuyên tư lộc, Hoằng nhơn Ðế Quân. | Ðức Khổng Tử lo việc ban phước lộc cho thế gian, là vị Ðế Quân nhơn đức rộng lớn. |
| 14. Trừng chơn chánh quang , Bửu quang từ tế. Thiên Tôn. | Trong sạch, ngay thật,sáng tỏ, báu sáng, nhơn từ, cứu giúp. Là một Ðấng Thiên Tôn. |
(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn)
GIẢI NGHĨA:
Quế là một loại cây quí, vỏ cây có mùi rất thơm, vị ngọt và cay nồng, tính ấm, dùng làm thuốc trị bịnh.
Ở đây, Quế Hương là tên riêng của một Ðiện nơi cõi thiêng liêng.
Ở đây, Văn Thỉ là tên riêng của một Cung nơi cõi thiêng liêng.
GIẢI NGHĨA:
Ðức Khổng Tử dùng văn chương thi phú, viết thành kinh sách để dạy dỗ nhơn sanh điều lành, điều đạo đức nhơn nghĩa, hiếu để trung tín, mà ăn ở cho phải đạo, hầu tạo ra một nhân lành thì sẽ hưởng được quả lành.
Ðó là Luật Nhân Quả:
Nghĩa là:
Lấy kinh sách làm vườn, lấy điều lành làm giống, vun phân tưới nước thì sẽ mọc lên cây lành và sẽ sanh trái lành.
GIẢI NGHĨA:
'Ruộng đây là tỷ với Tâm. Tâm không ai giồi trau. Ðạo nơi Tâm, thì Tâm ví như Ðiền, có Ðiền mà chẳng có cày bừa đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột, thì ruộng tất bỏ hoang, bỏ hoang thì sâu bọ rắn rít vào ẩn trú. Người mà có Tâm như vậy, ra thế nào?
Ruộng sẵn, giống sẵn, cày bừa sẵn, duy có công làm cho đất phì nhiêu đặng cho buổi gặt hưởng nhờ, mà không chịu làm, thế thì phải bị diệt tận chơn linh.' (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 53)
Cây quế, trong văn chương, được dùng để chỉ người có học thức tài giỏi đỗ đạt, có đức hạnh, có địa vị cao và tiếng tăm lớn.
Ðiển tích:
Ông Ðậu Võ đời nhà Tống, người đất Yên Sơn, tánh tình ngay thẳng, lại ham làm phước, đến 30 tuổi mà vợ chưa sanh được con.
Vợ chồng đi lễ chùa Diên Thọ để cầu tự, giữa đường gặp vàng bỏ rơi, ông liền giữ lấy rồi tìm người mất vàng trả lại.
Lòng ngay chánh cảm lòng Trời, nên Trời cho sống thêm 2 kỷ nữa và cho sanh 5 người con trai, lớn lên đều học giỏi và thi đậu Tiến Sĩ, làm quan hiển đạt, nổi danh là 'Yên Sơn Ngũ Quế' (5 cây quế ở đất Yên Sơn)
Trung Quốc Sử có chép rằng:
Nghĩa là:
Câu Kinh: Bồi quế thọ ư âm chất chi điền, có ý nói: Ðức Khổng Tử khuyên người đời ráng làm việc phước thiện đặng lập âm chất cho con cháu hưởng lâu dài về sau.
Cái âm chất ấy ví như miếng ruộng tốt, còn con cháu ví như cây quế cây hòe, hễ trồng lên miếng ruộng âm chất đó thì chắc chắn sẽ lớn lên tươi tốt sum suê, sanh trái lành quả ngọt, hưởng được lâu dài.
Còn thoảng như không lo làm âm chất, mà lo chạy theo bạc tiền danh vọng, dù sắm được bao nhiêu ruộng vườn nhà cửa đi nữa, thì khi chết cũng không mang theo được, để lại cho con cháu, chúng sẽ ỷ lại, tiêu xài phung phí, ăn không ngồi rồi, chẳng bao lâu cũng bán sạch, sự nghiệp tiêu tan.
GIẢI NGHĨA:
Câu nầy ý nói lúc chế thành chữ viết bên Tàu.
Sử Ký chép rằng: Ông Thương Hiệt, đời vua Huỳnh Ðế, trên xem hình sao, dưới dựa theo hình sự vật mà chế ra chữ viết (chữ Nho), nên gọi là văn tự tượng hình.
Thí dụ như chữ Khẩu [口] là miệng, phải để trống ở giữa; chữ Mã [馬] là ngựa, thì phải có 4 cái chấm bên dưới để tượng hình 4 cái chưn; chữ Môn [門] là cửa, phải có hình 2 cánh cửa ghép lại.
Khi văn tự được chế thành thì Trời sanh mưa, sấm chớp nổ vang, người người kinh sợ.
Chim phụng có tánh linh, khi thời loạn lạc thì ẩn mình trong hang núi, khi sắp thái bình thì bay ra cất tiếng gáy báo hiệu có vua Thánh ra đời.
Như vậy, văn tự linh thiêng như chim phụng trên núi, vì nhờ văn tự mà con người có thể học hỏi và tiến hóa để trở thành Thánh nhân.
Nhờ các bậc Thánh Hiền của Ðạo Nho mà người Trung Hoa có được một thứ chữ viết tượng hình có ý nghĩa rất cao siêu.
Khi cắt nghĩa bằng cách chiết tự thì mới thấy rõ ý nghĩa sâu xa của Thánh Hiền dụng tâm đặt vào trong chữ viết đó.
Do đó người xưa rất coi trọng chữ viết, vì cho đó là chữ của Thánh Hiền, nên khuyên người đời khi thấy giấy có viết chữ Nho rớt rơi, không nên chà đạp mà nên lượm lấy rồi đem đốt đi.
Kinh Sám Hối có câu:
| Thấy giấy chữ rớt rơi lượm lấy, |
| Ðốt ra tro bỏ chảy dòng sông. |
| Thủy triều vận tải biển đông, |
| Lòng hằng dường ấy, phước đồng ăn chay. |
GIẢI NGHĨA:
Ðây là từ ngữ mà khi xưa đọc là Trụ, nhưng ngày nay đọc là Tụ.
Ngao trụ là hòn núi dùng làm chỗ ở cho các vị Tiên có những con Cự Ngao đỡ vững, theo điển tích sau đây:
Trong sách Thần Dị Kinh của Ông Ðông Phương Sóc, Tổ Sư Tán Tiên, Ông có chép như sau:
Tại Bắc Câu Lư Châu có một ngọn núi cao, chư Tiên thường đến đó ở.
Núi có từ thời tạo thế, song cái đặc biệt là núi ấy không chưn, trôi nổi trên mặt biển, nhô lên hay thụp xuống tùy theo thủy triều. Chư Tiên lo sợ để lâu núi ấy sẽ trôi qua chỗ khác nên tâu với Thượng Ðế xin giữ núi ấy cho chắc.
Ðức Thượng Ðế sai 15 con Cự Ngao, to lớn hơn sấu voi thập bội, đến đỡ núi ấy cho vững, không cho trôi đi nữa. Số 15 con Cự Ngao được chia làm 2 phiên, mỗi phiên là 6 muôn năm, cứ luân phiên nhau mà giữ núi ấy.
Vậy Ngao trụ là ngọn núi Tiên nổi trên mặt biển có các con Cự Ngao đỡ vững.
GIẢI NGHĨA:
Bản chất của Tâm vốn lành, nên gọi là Lương Tâm.
Người làm ác là vì cái Tâm bị vật dục che phủ nên không còn điều khiển được hành động của mình.
Ý nói: Ðạo của Ðức Khổng Tử chủ trương lấy việc khai mở cái Tâm của con người làm gốc, bởi vì cái Tâm do Trời ban cho vốn lành và sáng suốt, thường khiến con người làm điều hay sự phải, giục con người mến đạo đức, chuộng tinh thần, biết thuận tùng Thiên lý.
Muốn khai mở cái Tâm, Ðức Khổng Tử lấy sự Hiếu thảo với cha mẹ làm căn bản, bởi vì trong trăm hạnh thì hiếu đứng đầu.
Người bất hiếu là vì để cái Tâm bị Lục dục Thất tình che lấp trở nên mờ ám.
Ðây là điểm đồng nhứt và cũng là căn bản của Tam giáo: Nho, Lão, Thích. Tam giáo đều dạy lấy Tâm làm gốc:
Trong Ðạo Cao Ðài, Ðức Phật Mẫu giáng cơ dạy về chữ TÂM như sau:
| Gắng sức trau giồi một chữ Tâm, |
| Ðạo đời muôn việc khỏi sai lầm. |
| Tâm thành ắt đạt đường tu vững, |
| Tâm chánh mới mong mối Ðạo cầm. |
| Tâm ái nhơn sanh an bốn biển, |
| Tâm hòa thiên hạ trị muôn năm. |
| Ðường Tiên cửa Thánh dầu chưa vẹn, |
| Có buổi hoài công bước Ðạo tầm. |
GIẢI NGHĨA:
Mỗi người dân trong nước ví như một tế bào trong cơ thể.
Tế bào nhờ mạch máu nuôi dưỡng mới hoạt động được, thì người dân cũng nhờ các hoạt động của các cơ quan, các ngành nghề trong nước mà có đời sống an ninh và đầy đủ.
Vua là người đứng đầu một nước, nên vua tượng trưng cho nước. Quan niệm trung với vua là trung với nước, chớ không phải trung thành với một cá nhân ông vua hay với dòng họ của ông vua.
Ý nói: Muốn cho quốc gia được vững bền thì trước tiên, người dân phải hết lòng trung thành với nước.
Trời ban cho con người một cái Tâm thiện lương chơn chánh để điều khiển xác thân đi theo đường đạo đức, nhưng vì lục dục thất tình che lấp cái Tâm, làm cho con người trở nên u mê tăm tối, đi vào nẻo vạy tà. Nay cần phải vẹt ra để cho cái Tâm được sáng tỏ.
Trong mục đích đó, Nho giáo chủ trương:
Ðây là một chủ trương rất tích cực và thực tế, để khai mở Tâm Tánh con người cho được sáng tỏ tốt đẹp.
Hiếu và Trung là 2 đức tánh căn bản của con người, vì các đức tánh khác đều bắt nguồn từ Trung và Hiếu cả.
GIẢI NGHĨA:
Ðối với những vị mà nguyên căn là những Chơn linh cao trọng lãnh lịnh giáng trần giáo hoá và làm lợi ích cho nhơn sanh, các Ðấng Thiêng liêng thường đến trong giấc chiêm bao để mách bảo những điều sắp xảy ra và những phương cách giải quyết để bảo tồn sự sống cho nhơn sanh.
Những sự mách bảo nầy thường dưới dạng ngụ ý, tượng trưng, cần phải suy nghĩ kỹ mới thấu rõ được.
Chúng ta đọc tiểu sử của Ðức Phạm Hộ Pháp, chúng ta thấy lúc Ngài còn trẻ tuổi, Ngài bị mê đi nhiều lần, và lần đáng nhớ nhất là năm 17 tuổi.
Ngài chiêm bao thấy Ngài về Bạch Ngọc Kinh gặp Ðức Chí Tôn, được Ðức Chí Tôn cho ăn bánh và uống nước, trong đó Ðức Chí Tôn ngụ ý cho biết về những việc sau nầy của Ngài.
Ðức Khổng Tử lãnh lịnh Ðức Chí Tôn giáng sanh xuống trần để phục hưng Nho giáo, nên Ngài thường được các Ðấng Thiêng liêng đến trong giấc chiêm bao mách bảo nhiều việc quan trọng.
Tương truyền, Ðức Khổng Tử thường nằm chiêm bao thấy Ông Châu Công Ðán dạy cho nhiều điều để làm lợi ích cho nhơn sanh.
Biết bao cảnh khổ não của nhơn sanh nơi cõi trần, mỗi người gặp khổ não một cách.
Nói như vậy không phải là cõi trần không có cái vui, cái hạnh phúc, nhưng cái vui và cái hạnh phúc ấy chỉ xảy ra rất ít và cũng không tồn tại lâu dài, còn cái buồn và cái khổ thì kéo đến liên tiếp.
Làm một cuộc tổng kết thì cái vui sướng chỉ có một mà cái buồn khổ nhiều gấp 10 lần hay hơn nữa.
Ðức Khổng Tử đứng hàng Phật vị, có cái Tâm từ bi của Phật, thấy các cảnh khổ não của chúng sanh thì đem lòng thuơng xót, nhứt là trong thời đại của Ngài là thời Xuân Thu Chiến Quốc, loạn lạc khắp nơi, đâu đâu cũng đầy dẫy cảnh khói lửa chết chóc, giết hại lẫn nhau, mạnh được yếu thua, khôn còn dạy mất, đạo đức suy đồi.
Ngài muốn cứu vớt nhơn sanh bằng cách đem học thuyết của Ngài dạy cho các từng lớp dân chúng và các hàng vua quan phải biết tôn trọng sự công bằng và mạng sống của con người, mỗi người phải làm đúng theo chức năng của mình, để cùng nhau tạo lập một cuộc sống thanh bình, an lạc, ấm no như thời của 2 vua Nghiêu Thuấn.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Khi đi chu du qua các nước chư Hầu, Ðức Khổng Tử được các vua chư Hầu đối đãi vào bực thượng khách, kính trọng là bực tôn sư để nghe Ngài giảng giải về phép trị nước an dân, làm cho dân giàu nước mạnh.
Hễ vua chư Hầu nào có lòng yêu mến dân chúng, biết tôn trọng đạo đức thì Ðức Khổng Tử ở lại đó giúp vua kế hoạch cải cách việc chánh trị, văn hóa và kinh tế; còn vị vua nào vô đạo, ham mê tửu sắc thì Ngài bỏ đi qua nước khác.
Sự đi hay ở của Ngài tùy thuộc vào cái Ðạo của Ngài có được thực hiện hay không mà thôi.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Khi Hớn Lưu Bang dẹp xong Hạng Võ, vua đi ngang nước Lỗ, đến làng Khuyết Lý, nơi sanh ra Ðức Khổng Tử, vào miếu bái lễ Ngài và truy phong là: Khổng Thánh Tiên Sư.
Nếu gom tất cả các danh hiệu mà các vị vua đã truy tặng Ðức Khổng Tử, ta được danh hiệu: 'Ðại Thánh Chí Thánh Tiên Sư Văn Tuyên Vương Khổng Tử'
Ngày nay thời Tam Kỳ Phổ Độ, Ðức Khổng Tử có tước hiệu là: Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn .
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Nhờ Ðức Khổng Tử phục hưng Ðạo Nho, làm cho học thuyết Nho giáo có hệ thống, đưa lên ngang hàng với Tiên giáo và Phật giáo.
Nước Tàu nhờ Nho giáo mà được thịnh vượng và hùng cường trong một thời gian dài.
Ðức Khổng Tử là Giáo chủ Nho giáo thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ. Ngài là một vị Ðế Quân, cũng là một vị Thiên Tôn.
Ðịa vị của Ngài nơi cõi thiêng liêng rất cao trọng, vào hàng Phật vị, đứng ngang hàng với Ðức Phật Thích Ca và Ðức Lão Tử.
Thời Tam Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Quan Thánh Ðế Quân, đại diện Ðức Khổng Tử cầm quyền Nho giáo, làm Ðệ Tam Trấn Oai Nghiêm Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Tinh hoa của Giáo lý Nho giáo được Ðạo Cao Ðài áp dụng để chấn hưng nền phong hóa và luân lý của dân tộc VN, tạo nên một khuôn mẫu cho toàn thế giới noi theo, đúng vói câu Thánh ngôn của Ðức Chí Tôn: 'Nam phong thử nhựt biến Nhơn phong'. (Phong hóa của người VN ngày ấy biến thành phong hóa của nhơn loại)
Ðó chính là chủ trương NHO TÔNG CHUYỂN THẾ của Ðạo Cao Ðài.
Nho giáo là tôn giáo dạy về Nhơn Ðạo, có nguồn gốc từ các vị vua thời thượng cổ là Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Ðế.
Ðược Ðức Khổng Tử phục hưng, sắp xếp lại có hệ thống, xiển dương rộng thêm, tạo thành một học thuyết có giá trị cao siêu, đứng ngang hàng với Phật giáo và Lão giáo.
Do đó, Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo, đạo của Ðức Khổng Tử.
Chiết tự chữ NHO: Theo Hán văn, chữ Nho [儒] gồm 2 chữ hiệp lại:
Vậy theo cách chiết tự trên, NHO là hạng người lúc nào cũng được cần dùng đến để giúp cho nhơn quần xã hội, biết cách ăn ở và hành động cho thuận lòng người, họp lẽ Trời.
Hạng người nầy cũng là hạng người có tài năng, học thức, luôn luôn ở thế đợi chờ, khi có người cần đến thì sẵn sàng đem tài năng ra giúp.
Những người Nho học thường chuyên về mặt thực tế hơn lý tưởng, có khuynh hướng nhập thế hơn là yếm thế, nhập thế để làm lợi ích cho nhơn quần xã hội, không yếm thế trốn lánh việc đời mà tìm lấy sự an vui cho riêng mình.
Ðức Khổng Tử đã có thời đi chu du thiên hạ, mưu cầu ra làm quan để đem cái học của Ngài áp dụng, tạo lập một xã hội thanh bình, an lạc và thạnh vượng.
Các môn đệ của Ngài và các nhà Nho đời sau đều noi theo đường lối nhập thế đó của Ðức Khổng Tử.
Nho giáo bắt nguồn từ thời thượng cổ với vua Phục Hy chế ra Tiên Thiên Bát Quái, chế ra Lễ Nhạc, quần áo.
Các vị vua tiếp theo như vua Thần Nông, Huỳnh Ðế, chế ra lịch, chữ viết, dạy dân họp chợ, cày cấy, dùng thảo mộc trị các thứ bịnh, vv...
Ðến thời vua Văn Vương nhà Châu, nhà vua lại chế ra Hậu Thiên Bát Quái, diễn giải Kinh Dịch.
Ðức Khổng Tử gom góp tất cả sách vở thời xưa, sắp xếp và san định lại, giải thích thêm cho sáng tỏ, tạo thành Ngũ Kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, và sau đó Ngài trước tác sách Xuân Thu để bày tỏ cái Ðạo của Ngài.
Ðức Khổng Tử không phải là người sáng lập Nho giáo, Ngài chỉ phục Hưng Nho giáo.
Nhờ Ðức Khổng Tử mà Nho giáo trở thành một học thuyết có hệ thống, gồm cả 2 phần:
Áp dụng rất hiệu quả trong công cuộc trị nước an dân.
Do đó, Ðức Khổng Tử được xưng tụng là: Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.
Như vậy, Ðức Khổng Tử là Giáo chủ Nho giáo của thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ.
Còn thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, chúng ta có thể xem 3 vị vua Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Ðế là 3 vị Tổ Sư của Nho giáo.
Trong tập 'Phổ Cáo Chúng Sanh', trang 5: Thánh Ngôn của Ðức Chí Tôn ngày 25-2-1926:
'Trọng Ni (Khổng Phu Tử) là Văn Xương Tiên hạ trần đặng thừa mạng Thầy làm Chưởng giáo Nhơn đạo, lo xong phận sự thì Thầy đến độ hồi cựu vị.'
Ðức Khổng Tử sanh ngày 27 tháng 8 năm Canh Tuất (551 trước Tây lịch), năm thứ 21 đời vua Châu Linh Vương, ở sông Thù, ấp Tu, làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Ðông, nước Lỗ.
Các sách xưa không thống nhứt nhau về ngày sanh của Ðức Khổng Tử. Xin nêu ra 3 tài liệu:
Ðại Lễ Vía Ðức Khổng Tử trong Ðạo Cao Ðài là ngày 27 tháng 8 âm lịch hằng năm. Ðó là ngày Lễ Kỷ Niệm Thánh đản của Ðức Khổng Tử, đúng theo Từ Ðiển của Diên Hương.
Thân phụ của Ngài là Thúc Lương Ngột, mẹ là Trưng Tại, họ Nhan. Hai Ông Bà lên núi Ni Khâu cầu tự, nên chừng sanh Ngài thì lấy tên núi mà đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni.
Theo truyền thuyết, trước khi sanh Ngài, Bà Nhan thị nằm mơ thấy có người dắt con Kỳ Lân đến cho và nói rằng: 'Thủy Tinh chi tử, kế suy Châu vi Tố vương'
Nghĩa là: Con của Thủy Tinh, nối nhà Châu suy, mà làm vua không ngôi.
Bà sờ vào con Kỳ Lân thì nó hét lên làm bà giật mình tỉnh dậy, kế chuyển bụng và sanh ra Ngài.
Lúc sanh Ngài, Bà Nhan thị vào ở trong hang đá Không Tang, núi Nam Sơn, nghe trên Trời có âm nhạc và tiếng nói: Trời cảm lòng cầu nguyện cho sanh con Thánh.
Khi gần sanh Ngài, hang đá nứt, một dòng suối chảy ra. Bà Nhan thị lấy nước suối ấy tắm cho Ngài, tắm xong, suối liền khô.
Ngài cao lớn và có nhiều tướng lạ: Môi trâu, tay cọp, vai uyên, lưng rùa, miệng rộng, mắt lồi, tai to, răng lộ, trán gồ, mình cao 9 thước 6 tấc (thước Tàu), đi nhanh.
Ngài học rộng, biết nhiều, thấy xa. Vua nước Lỗ dùng Ngài làm quan Tư Khấu, song chẳng bao lâu, vua đắm mê Nữ nhạc, bỏ việc triều chánh.
Ngài cản ngăn không được, liền từ chức, đi chu du các nước chư Hầu như: Tề, Vệ, Trần, Sở, Tống, thuyết phục các vua chư Hầu, mong đem cái Ðạo của Ngài ra giúp đời.
Nhưng đến đâu, các vua chư Hầu đều chuộng Bá đạo, nên không dùng Vương đạo của Ngài.
Tuy nhiên các vua chư Hầu rất kính trọng Ngài, xem Ngài là thượng khách.
Mãi đến khi Ðức Khổng Tử được 68 tuổi, Ngài mới quay trở về nước Lỗ, mở trường dạy học ở Hạnh Ðàn, san định Ngũ Kinh và trước tác sách Xuân Thu.
Học trò của Ðức Khổng Tử có tới 3000 người (Tam thiên đồ đệ), trong đó có 72 người được liệt vào bực Hiền (Thất thập nhị Hiền) mà Nhan Hồi đứng đầu, là bực Ðại Hiền.
Ngày mất của Ðức Khổng Tử ghi trong các sách cũng không thống nhứt nhau, nhưng năm mất đều ghi là năm Nhâm Tuất (479 trước Tây lịch), Ðức Khổng Tử hưởng thọ 73 tuổi.