| Column 1 of row 1 | Column 2 of row 1 |
| Column 1 of row 2 | Column 2 of row 2 |
Kinh Tận độ Vong linh: Di-Lạc Chơn Kinh
| KINH: | GIẢI NGHĨA: |
| 1. Khai Kinh Kệ, | Kệ mở đầu bài kinh, |
| 2. Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, | Giáo lý của Phật rất cao siêu, rất sâu xa, huyền vi mầu nhiệm. |
| 3. Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ. | Trăm ngàn muôn kiếp khó gặp đặng. |
| 4. Ngã kim thính văn đắc thọ trì, | Ta ngày nay nghe biết được nhận lấy và gìn giữ, |
| 5. Nguyện giải Tân Kinh chơn thiệt nghĩa. | Nguyện giải thích bài kinh mới với ý nghĩa chơn thật. |
| 6. Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết, | Ðức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết giảng, |
| 7. Di-Lạc Chơn Kinh. | Kinh Di-Lạc chơn thật. |
| 8. Thượng Thiên Hỗn Nguơn hữu:
|
Từng Trời ở trên hết là Thượng Thiên Hỗn Nguơn có:
|
9.
|
|
| 10. Hội Nguơn Thiên hữu:
|
Từng Trời Hội Nguơn Thiên có:
|
11.
|
|
12.
|
|
13.
|
|
14.
|
|
| 15. Hư Vô Cao Thiên hữu:
|
Từng Trời Hư Vô Cao Thiên ở trên cao, có:
|
16.
|
|
17.
|
|
| 18. Tạo Hóa Huyền Thiên hữu:
|
Từng Trời Tạo Hóa Huyền Thiên có:
|
19.
|
|
20.
|
|
| 21. Phi Tưởng Diệu Thiên hữu:
|
Từng Trời Phi Tưởng Thiên huyền diệu có:
|
22.
|
|
23.
|
|
| 24. Hạo Nhiên Pháp Thiên hữu:
|
Từng Trời Hạo Nhiên Thiên coi về Pháp luật, có:
|
25.
|
|
26.
|
|
GHI CHÚ:
Tụng đến đây thì niệm danh mỗi vị Phật, lạy xuống 1 lạy không gật.
Tất cả có 53 lần niệm, lạy 53 lạy.
Tiếp theo tụng Câu Chú của Thầy 3 lần, cầu nguyện, xong lạy xuống 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy.
GIẢI NGHĨA:
Di-Lạc Chơn Kinh, thuộc Kinh Tận Ðộ, do Ðức Phật Thích Ca giáng cơ ban cho.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
CHÚ Ý: Bên Kinh Phật giáo, câu kinh nầy là:
Nghĩa là:
Kiến là thấy. Kiến văn là nghe thấy.
GIẢI NGHĨA:
Các bài Kinh của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do các Ðấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho từ năm Bính Dần (1926) trở về sau được gọi là Tân Kinh.
Còn các bài kinh thuộc Nhị Kỳ Phổ Ðộ, được gọi là Cựu Kinh.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Con người có Tứ Khổ: Sanh, Lão, Bệnh, Tử.
Ngoài ra, con người còn chịu biết bao nỗi đau khổ khác do Tham, Sân, Si gây ra.
Thường, chữ 'Nghiệp' dùng với ý nghĩa là 'Nghiệp dữ' (Ác nghiệp), thì đương nhiên phải chịu lấy hậu quả xấu theo đúng Luật Nhân Quả.
Chướng là sự ngăn trở. Nghiệp chướng là sự ngăn trở của nghiệp, nó sẽ gây ra hoạn nạn, bệnh tật, trong kiếp sống hiện tại để ngăn trở, báo đáp lại những việc làm bất thiện đã tạo ra trong kiếp trước.
Luân chuyển hóa sanh là xoay vòng như cái bánh xe, hết sanh rồi tử, hết tử rồi lại sanh ra.
Ðó là sự luân hồi chuyển kiếp, khiến con người chìm đắm mãi trong cõi trần, từ kiếp nầy sang kiếp khác.
Ta bà Thế giới là những cõi mà người tu hành phải nhẫn nhục, vì ở cõi nầy có nhiều ô trược và ác độc.
Ở cõi nầy rất khó tu hành, nhưng nếu tu được thì công đức rất lớn, chỉ trong một kiếp cũng có thể đạt được phẩm vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng.
Cõi trần của nhơn loại chúng ta đây là một cõi trong Ta bà Thế giới.
Ðộ tận là cứu giúp tất cả nhơn loại, không chừa một người nào, dầu con nít còn trong bụng mẹ cũng phải độ.
Ðức Chí Tôn có nói:
'Chiêu kỳ trung độ dẫn hoài sanh', là nghĩa gì? Dầu cho trẻ con trong bụng cũng phải độ, sao các con lại đuổi thiện nam tín nữ?' (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 20)
Vạn linh đầu kiếp xuống trần làm chúng sanh.
Dùng chữ Qui là trở về, với ý nghĩa là: Trước đây Chơn linh đã đạt được ngôi vị Phật nơi cõi thiêng liêng, nay đầu kiếp xuống trần, tu hành đắc đạo trở về ngồi lại trên ngôi vị cũ.
GIẢI NGHĨA:
Hư Vô Thiên là từng Trời thứ 10 (ở ngay phía trên Cửu Trùng Thiên) thì Hội Nguơn Thiên là từng thứ 11 và Hỗn Nguơn Thiên là từng thứ 12.
Hai từng Trời 11 và 12 đều đặt dưới quyền chưởng quản của Ðức Di-Lạc Vương Phật.
GIẢI NGHĨA:
Nghiệt chướng là cái nghiệp ác gây ra nhiều chướng ngại cho kiếp sống hiện tại, như gặp phải hoạn nạn, tai ương, hay bịnh tật.
GIẢI NGHĨA:
Ðức Chí Tôn là Phật, vị Phật lớn nhứt trong các vị Phật.
Ðức Chí Tôn phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, biến Lưỡng Nghi thành Tứ Tượng, rồi Bát Quái.
'Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giới nên mới gọi là Pháp, Pháp có mới sanh ra Càn Khôn Vạn Vật rồi mới có người nên gọi là Tăng.
Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Ðạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy.' (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 52)
Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng là niệm Ðức Chí Tôn.
Nghĩa là:
Chánh đẳng là bực Chơn chánh, Chánh giác là giác ngộ chơn chánh, biết rõ chơn lý, giác ngộ hoàn toàn.
Ða-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Ðề là Thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ðó là phẩm vị Phật.
GIẢI NGHĨA:
Nghĩa là:
A-Nậu Ða-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Ðề: Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðó là phẩm vị Phật tối cao.
GIẢI NGHĨA:
Người tu hành luôn luôn bị bọn ma quỉ khuấy phá đủ cách để làm chướng ngại cho bước đường tu, nhưng chính đó cũng là những thử thách cần thiết để nâng cao trình độ tu tiến.
Nếu vượt qua được các chướng ngại do quỉ ma gây ra thì mới chứng tỏ người tu có đủ hạnh đức và có thể đắc đạo.
Nhất tâm là một lòng một dạ, niệm là tưởng nghĩ.
Vương là vua, người đứng đầu có quyền thống trị tất cả.
Gọi Ngài là Di-Lạc Vương Phật khi Ngài ngự trên ngôi vị, điều khiển chư Phật và cai trị toàn cả Càn Khôn Thế Giới.
Gọi ngài là Di-Lạc Vương Bồ Tát khi Ngài làm nhiệm vụ cứu độ và dẫn dắt chúng sanh tu hành.
GIẢI NGHĨA:
Ðây là từng Trời thứ 10, kế bên trên Cửu Trùng Thiên, dưới quyền chưởng quản của Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật.
GIẢI NGHĨA:
Thiên Thi là quyển sách của Trời, dùng để ghi chép Thiên điều, tức là ghi chép các luật pháp của Trời, điều hành sự vận chuyển Càn Khôn Vũ Trụ và sự tiến hóa của vạn vật.
Thiên điều do chư Phật và chư Tiên họp Ðại Hội tại Ngọc Hư Cung bàn định lập ra.
Ngọc Hư Cung ở trong từng Trời Hư Vô Thiên.
GIẢI NGHĨA:
Thoát đọa luân hồi: Thoát khỏi sự đày đọa vào vòng luân hồi sanh tử, nghĩa là đắc đạo thành Tiên Phật.
GIẢI NGHĨA:
(Ðây là cách hiểu thông thường theo 5 nấc thang tiến hóa của Chơn linh, đạt được phẩm vị Tiên rồi mới tiến lên phẩm vị Phật).
GIẢI NGHĨA:
Ðức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nên gọi là Kim Bàn Phật Mẫu.
GIẢI NGHĨA:
Dục tu phát nguyện là muốn tu hành nên phát ra lời nguyện.
Nếu làm tròn được lời nguyện nầy thì sẽ đạt được phẩm vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng.
Quần linh đồng nghĩa với Vạn linh, tất cả các Chơn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ.
Hư là trống không, chỉ cõi Hư Vô, là cõi xem như trống không nhưng rất mầu nhiệm vì từ cái Không nầy mà sản xuất ra cái Có.
Huờn Hư là trở lại cõi Hư Vô, tức là đắc đạo.
Thi hình là thi hành khuôn phép tức là áp dụng đúng các giới luật tu hành.
Ðây là từ ngữ đặc biệt được dùng trong Phép Luyện đạo, để chỉ cái Chơn thần của người tu đắc đạo.
Trong phép Luyện đạo, khi đã luyện được Tinh Khí Thần hiệp nhứt thì tạo được Chơn thần huyền diệu, đắc đạo thành Tiên, Phật.
Cái Chơn thần nầy được các nhà tôn giáo gọi bằng nhiều danh từ khác nhau, như
GIẢI NGHĨA:
Ðây là từng Trời thứ 8 trong Cửu Trùng Thiên, dưới quyền chưởng quản của Ðức Từ Hàng Bồ Tát.
Ðức Từ Hàng Bồ Tát có đầy đủ công đức đắc thành vị Phật cao siêu, nhưng Ngài chưa muốn ngự lên ngôi vị Phật, mà muốn làm một vị Bồ Tát để cứu độ chúng sanh.
GIẢI NGHĨA:
Sanh chúng hay Chúng sanh là toàn thể các loài sanh vật trong Càn Khôn Vũ Trụ, gồm:
Vạn linh đầu kiếp xuống trần làm chúng sanh, nên trong Chúng sanh có đủ Bát hồn đầu kiếp vào để học hỏi và tiến hóa.
GIẢI NGHĨA:
Tứ khổ là 4 thứ đau khổ mà con người nơi cõi trần phải gánh chịu: Sanh, Lão, Bệnh, Tử.
Ðức Phật Thích Ca giải rõ Tứ khổ trong Tứ Diệu Ðế, giáo pháp căn bản của Phật giáo.
Thoát ư Tứ Khổ là thoát ra khỏi nơi có 4 cái khổ, tức là thoát khỏi cõi trần, thoát đọa luân hồi, tất được giải thoát, trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.
GIẢI NGHĨA:
Ðây là từng Trời thứ 7 trong Cửu Trùng Thiên, dưới quyền chưởng quản của 2 vị Bồ Tát:
Hai vị Bồ Tát nầy, cũng như Ðức Từ Hàng Bồ Tát, là những Ðấng có đầy đủ công đức thành những vị Phật cao siêu, nhưng quí Ngài chưa muốn ngự lên ngôi vị Phật, mà muốn làm một vị Bồ Tát để đem lòng từ bi cứu giúp toàn cả chúng sanh nơi cõi trần.
GIẢI NGHĨA:
Ma và Quỉ luôn luôn tìm cách phá hại người tu, làm cho người tu nãn lòng mà quay gót trở về thế tục.
Người tu phải xem đó là những thử thách để đánh giá trình độ tu hành.
Nếu thắng được ma chướng quỉ tai thì mới có thể đắc đạo, đạt được ngôi vị nơi cõi Thiêng liêng.
Qui ư Cực Lạc là trở về cõi Cực Lạc Thế Giới, tức là đắc đạo, đạt được ngôi vị nơi cõi Cực Lạc Thế Giới.