| Column 1 of row 1 | Column 2 of row 1 |
| Column 1 of row 2 | Column 2 of row 2 |
Phật Mẫu Chơn Kinh
| KINH: | GIẢI NGHĨA: |
| 1. Tạo Hóa Thiên Huyền vi Thiên Hậu, | Ở từng Trời Tạo Hóa Thiên có Ðấng Phật Mẫu huyền vi mầu nhiệm, |
| 2. Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì. | Ðức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung. |
| 3. Sanh quang dưỡng dục quần nhi. | Dùng Khí Sanh quang để nuôi nấng cho khôn lớn toàn thể con cái của Ngài. |
| 4. Chơn linh phối nhứt thân vi Thánh hình. | Chơn linh phối hiệp làm một với Chơn thần để tạo thành một người nơi cõi thiêng liêng. |
| 5. Thiên cung xuất vạn linh vạn linh tùng pháp. | Ðức Chí Tôn sản xuất ra vạn linh nên vạn linh phải tùng theo Pháp của Ðức Chí Tôn. |
| 6. Hiệp Âm dương hữu hạp biến sanh. | Hòa hợp 2 khí Âm và Dương quang để biến hóa sanh ra. |
| 7. Càn Khôn sản xuất hữu hình. | Sản xuất ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật có hình thể. |
| 8. Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh. | Vận chuyển Bát hồn đầu kiếp xuống trần hóa thành chúng sanh. |
| 9. Cộng vật loại huyền linh đồ nghiệp. | Hiệp tất cả chơn linh của chúng sanh để mưu tính làm sự nghiệp cho mình. |
| 10. Lập Tam tài định kiếp hòa căn. | Lập ra Tam tài (Thiên, Ðịa,Nhơn) sắp đặt cái kiếp sống và cái căn quả của mỗi người. |
| 11. Chuyển luân định phẩm cao thăng, | Nhờ luân hồi chuyển kiếp mà các Chơn linh tiến hóa, được định cho phẩm vị cao trọng hơn. |
| 12. Hư Vô Bát Quái trị thần qui nguyên. | Ðức Phật Mẫu sắp đặt đem các chơn linh trở về gốc là Hư Vô Bát Quái, tức là trở về cùng Ðức Chí Tôn. |
| 13. Diệt tục kiếp trần duyên oan trái. | Tiêu diệt hết các mối dây ràng buộc con người vào cõi trần và những oan trái đã gây ra. |
| 14. Chưởng Ðào Tiên thủ giải trường tồn. | Ðức Phật Mẫu chưởng quản các trái Ðào Tiên để làm phần thưởng cho các chơn linh đắc đạo trở về ăn vào được hằng sống. |
| 15. Nghiệp hồng vận tử hồi môn, | Công nghiệp to lớn của Phật Mẫu là đem con cái trở về ngôi nhà cũ nơi cõi thiêng liêng. |
| 16. Chí Công định vị vĩnh tồn Thiên cung. | Ðức Chí Tôn sắp đặt phẩm vị cho các Chơn linh để được hằng sống nơi cõi thiêng liêng. |
| 17. Chủ Âm quang thường tùng Thiên mạng. | Ðức Phật Mẫu làm chủ Khí Âm quang, luôn luôn tùng mạng lịnh của Ðức Chí Tôn. |
| 18. Ðộ Chơn thần nhứt vãng nhứt lai. | Cứu giúp các Chơn thần mỗi khi đi xuống trần đầu thai hay mỗi khi mãn kiếp trở về. |
| 19. Siêu thăng phụng liễn qui khai. | Khi linh hồn được siêu thăng thì có chiếc xe Tiên mở cửa rước về. |
| 20. Tiên cung, Phật xứ, Cao Ðài xướng danh. | Ðức Chí Tôn gọi tên lên để ban thưởng cho về Cung Tiên Xứ Phật. |
| 21. Hội nguơn hữu Chí Linh huấn chúng. | Cuối Hạ nguơn Tam Chuyển bước qua Thượng nguơn Tứ Chuyển, có Ðức Chí Tôn đến dạy dỗ nhơn sanh. |
| 22. Ðại Long Hoa nhơn chủng hòa ki. | Ðại Hội Long Hoa là cơ quan đem các chủng tộc loài người hòa hợp cùng nhau. |
| 23. Tam Kỳ khai hiệp Thiên Thi. | Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mở ra phù hợp với Thiên thơ tiền định. |
| 24. Khoa môn Tiên vị ngộ kỳ Phật duyên. | Trường thi lên phẩm vị Tiên dành cho người may mắn gặp Ðạo và có duyên với Phật. |
| 25. Trung khổ hải độ thuyền Bát Nhã. | Ðức Phật Mẫu đem thuyền Bát vào trong biển khổ để cứu vớt nhơn sanh. |
| 26. Phước từ bi giải quả trừ căn. | Ðức Phật Mẫu ban phước và do lòng từ bi giải trừ căn quả cho nhơn sanh. |
| 27. Huờn hồn chuyển đọa vi thăng. | Người bị Ngũ Lôi tru diệt cho huờn linh hồn và chơn thần sống lại và ân xá các hồn bị đọa nay được siêu thăng. |
| 28. Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn chưởng Âm. | Cửu vị Tiên Nương quay trở lại Kim Bàn Diêu Trì Cung để giúp Ðức Phật Mẫu chưởng quản khí Âm quang. |
| 29.30. Thập Thiên can bao hàm vạn tượng, Tùng Ðịa chi hóa trưởng Càn Khôn. |
Mười Thiên can bao gồm muôn hình vạn trạng, Thập Thiên can tùng theo Thập nhị Ðịa chi làm biến đổi và lớn rộng thêm Càn Khôn Vũ Trụ. |
| 31. Trùng huờn phục vị Thiên môn. | Nhiều lần cho trở lại ngôi vị cũ nơi cõi thiêng liêng. |
| 32. Nguơn linh hóa chủng Quỉ hồn nhứt thăng. | Các Nguyên hồn nay hóa thành các loại Quỉ hồn đều được độ rỗi siêu thăng. |
| 33. Vô siêu đọa quả căn hữu pháp. | Không siêu thăng, không đọa đày, căn quả của mỗi người đều có luật pháp định rõ. |
| 34. Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan. | Không có những hình phạt khổ sở do các oan nghiệt của kiếp trước lưu lại (vì Phật Mẫu tiêu diệt hết) |
| 35. Vô Ðịa ngục, Vô Quỉ quan. | Không còn Ðịa ngục, không còn cửa quỉ. |
| 36. Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên. | Ðức Chí Tôn đại khai ân xá để đem tất cả con cái trở về hội hiệp vào một chỗ cùng Ngài. |
| 37. Chiếu nhũ lịnh Từ Huyên thọ sắc, | Chiếu theo lịnh của Ðức Phật Mẫu, mà Phật Mẫu nhận lãnh sắc lịnh của Ðức Chí Tôn, |
| 38. Ðộ anh nhi Nam Bắc Ðông Tây. | Cứu giúp toàn thể con cái của Phật Mẫu khắp nơi trên cõi trần. |
| 39. Kỳ khai tạo nhứt Linh đài, | Mở ra Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là để tạo một khối đức tin lớn, |
| 40. Diệt hình tà pháp cường khai đại đồng. | Tiêu diệt tất cả hình thức của tà quái để mở ra một cách mạnh mẽ xã hội đại đồng cho nhơn loại. |
| 41. Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch. | Hiệp các chủng tộc nhơn loại thành một nhà có cùng chung một tín ngưỡng. |
| 42. Qui Thiên lương quyết sách vận trù. | Phật Mẫu liệu định kế hoạch, vận động toan tính đem cái Thiên lương trở lại làm chủ con người. |
| 43. Xuân Thu, Phất chủ, Bát Vu, | Ba Cổ pháp tượng trưng Tam giáo là: Kinh Xuân Thu (Nho giáo), Cây Phất chủ (Tiên giáo), Bình Bát vu (Phật giáo). |
| 44. Hiệp qui Tam giáo hữu cầu chí chơn. | Ðem Tam giáo trở về hiệp thành một khối mong tạo thành một nền Ðại Ðạo chơn thật. |
| 45. Phục nguyên nhơn huờn tồn Phật tánh. | Ðem các Nguyên nhơn trở về bằng cách hoàn trả và bảo tồn cái bổn tánh thiện lương chơn chánh mà Trời đã ban cho mỗi người. |
| 46. Giáo hóa hồn hữu hạnh hữu duyên. | Giáo hóa các linh hồn có may mắn (gặp Ðạo) và có duyên (với việc tu hành). |
| 47. Trụ căn quỉ khí Cửu tuyền. | Ðức Phật Mẫu giữ yên các Quỉ hồn tại cái gốc của nó là cõi Âm phủ. |
| 48. Quảng khai Thiên thượng tạo quyền chí công. | Ðức Phật Mẫu mở rộng cõi Trời để thi hành cái quyền Công bình thiêng liêng tuyệt đối của Trời. |
| 49. Lịnh Mẫu Hậu khai tông định Ðạo. | Ðức Phật Mẫu ra lịnh mở ra một nền tôn giáo và sắp đặt các việc trong nền tôn giáo ấy. |
| 50. Ân dưỡng sanh đảm bảo hồn hài. | Công ơn của Ðức Phật Mẫu là ra và nuôi dưỡng cho khôn lớn, lại còn gìn giữ linh hồn và chơn thần được toàn vẹn. |
| 51. Càn Khôn tạo hóa sánh tài. | Ðức Phật Mẫu mặc sức trổ tài tạo hóa ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật. |
| 52. Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang. | Mỗi buổi sáng, mỗi buổi chiều, mỗi buổi tối, chúng ta phải sắp đặt để đến viếng an Ðức Mẹ. |
| 53. Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Tạo Hóa Thiên cảm bái. | Chúng con cầu nguyện kính lạy Ðức Phật Mẫu ở từng Trời Tạo Hóa Huyền Thiên huyền diệu với tất cả lòng cảm xúc. |
| 54. Nam mô Ðại Từ Bi Năng Hỷ Xả Thiên Hậu Chí Tôn Ðại Bi Ðại Ái. | Chúng con cầu nguyện với Ðức Phật Mẫu có đức từ bi lớn, đức hỷ xả lớn, đức bác ái lớn, với lòng tôn kính tột bực. |
(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn)
Ðức Phạm Hộ Pháp có giải nghĩa bài Phật Mẫu Chơn Kinh một cách tổng quát khi Ngài thuyết đạo tại Cửu Long Ðài trước Báo Ân Từ nhân ngày Ðại Lễ Vía Ðức Phật Mẫu vào lúc 4 giờ chiều ngày 15-8-Ðinh Hợi (1947).
(Bài thích nghĩa nầy có in trong quyển Thuyết Ðạo Ðức Hộ Pháp, quyển 1 trang 64)
(Soạn giả căn cứ vào bài giải nghĩa nầy của Ðức Phạm Hộ Pháp để giải rộng thêm chi tiết từng chữ và từng câu kinh cho dễ hiểu. Ngoài ra, soạn giả có viết thêm phần chữ Hán để xác định từ ngữ. Ðây là bản phiên dịch Hán văn đầu tiên, chắc không tránh khỏi sai sót, kính mong quí vị góp ý sửa chữa).
GIẢI NGHĨA:
Ðức Phật Mẫu là Bà Mẹ thiêng liêng chung cho cả Vạn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ, tức là Bà Mẹ thiêng liêng chung cho cả chúng sanh nơi cõi trần.
Theo Luật Tam Thể Xác Thân, chúng ta biết rằng, mỗi con người nơi cõi phàm trần đều có 3 thể:
Ðức Phật Mẫu được nhơn loại gọi bằng nhiều danh từ khác nhau, tùy theo tôn giáo và địa phương.
Ở Trung Hoa và Việt Nam, Ðức Phật Mẫu được gọi bằng các danh từ, kể ra sau đây:
Hiện nay, tại Tòa Thánh Tây Ninh, Hội Thánh chưa xây dựng Ðiện Thờ Phật Mẫu chánh thức ở Trung Ương, còn thờ tạm Ðức Phật Mẫu nơi Báo Ân Từ.
Trong Báo Ân Từ, Ðức Phạm Hộ Pháp dạy đắp tượng Ðức Phật Mẫu lấy theo sự tích Hớn Võ Ðế cung nghinh Ðức Phật Mẫu như sau:
Trong khuôn tượng, đắp lên một cảnh chùa cổ, kiểu xưa, đẹp, gọi là Hoa Ðiện.
Ðáng lẽ phải tạo hình Hớn Võ Ðế, nhưng vì đời Hớn (Hán) đến nay quá xa thẳm, lại nữa nguyên căn của Hớn Võ Ðế là Chơn linh Hớn Chung Ly trong Bát Tiên giáng sanh.
Nay là thời Tam Kỳ Phổ Độ, Bát Tiên lãnh lịnh giáng trần làm Tướng soái cho Ðức Chí Tôn khai Ðạo, Ðức Cao Thượng Phẩm chính là Chơn linh Hớn Chung Ly giáng phàm kỳ nầy, nên tạo hình Ðức Cao Thượng Phẩm thay vào chỗ Hớn Võ Ðế thì thuận hơn.
GIẢI NGHĨA:
Tạo Hoá Thiên là từng Trời có nhiệm vụ tạo hóa Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.
Ðó là từng Trời thứ 9 trong Cửu Trùng Thiên, do Ðức Phật Mẫu chưởng quản, có Cửu vị Tiên Nương và các vị Tiên Phật khác phụ giúp.
GIẢI NGHĨA:
Kim Bàn hay Kim Bồn là cái chậu bằng vàng nơi Diêu Trì Cung mà Ðức Phật Mẫu dùng để chứa các nguyên chất (nguơn chất) tạo nên Chơn thần cho Vạn linh.
Kinh Ðệ Cửu cửu có câu:
Trong Cung của Ðức Phật Mẫu nơi từng Trời Tạo Hóa Thiên, có một cái ao làm bằng ngọc Diêu, nên Cung đó được gọi là Diêu Trì Cung.
Ðức Phật Mẫu chưởng quản Cung đó, nên gọi là Phật Mẫu Diêu Trì.
Ðức Hộ Pháp giải nghĩa 2 câu kinh 1 & 2 như sau:
Từng Trời thứ 9 gọi là Cung Tạo Hóa Thiên, có vị cầm quyền năng tạo đoan gọi là Thiên Hậu, nắm cả Kim Bàn, tức là nắm đẳng cấp Thiêng liêng điều khiển Chơn linh, gọi là Phật Mẫu Diêu Trì.
GIẢI NGHĨA:
Sanh quang là năng lượng giống như ánh sáng để nuôi dưỡng sự sống.
Ðối với con người và các loài sanh vật nơi cõi trần, Sanh quang là khí Oxy (Oxygène hay Dưỡng khí) và ánh sáng mặt trời. Nếu không có 2 chất nầy, vạn vật sẽ chết hết.
Nơi cõi Thiêng liêng, Sanh quang là khí Thái Cực, phát ra từ ngôi Thái Cực, để nuôi sống Chơn thần của Vạn linh.
Ðức Phật Mẫu trụ khí Sanh quang nầy lại, biến thành những quả Ðào Tiên, có đủ sự sống vĩnh cửu, để ban thưởng cho những Chơn thần đắc đạo trở về.
Ðức Phạm Hộ Pháp giải nghĩa Câu kinh số 3: 'Lấy khí Sanh quang (Fluide de Vitalité) nuôi nấng con cái của Người.'
GIẢI NGHĨA:
Ðức Phật Mẫu thâu điểm Linh quang từ ngôi Thái Cực để làm Chơn linh.
Rồi dùng 2 Khí Dương quang và Âm quang trong Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung để tạo thành xác thân thiêng liêng (Chơn thần), bao bọc Chơn linh, phối hiệp Chơn linh và Chơn thần làm một, để tạo thành một con người nơi cõi Thiêng liêng.
Ðó là một Nguyên nhân nơi cõi thiêng liêng.
Khi Nguyên nhân đầu kiếp xuống cõi phàm trần thì Chơn linh và Chơn thần sẽ nhập vào một hài nhi vừa mới lọt lòng bà mẹ phàm trần.
Chơn linh tạo nên sự sống và gìn giữ sự sống cho hài nhi, Chơn thần làm khuôn viên hình ảnh cho thể xác phàm của hài nhi.
Lúc đó, Chơn linh, Chơn thần và thể xác phàm của hài nhi phối hiệp làm một để tạo thành một con người mới nơi cõi phàm trần.
GIẢI NGHĨA:
Vạn linh là tất cả các Chơn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ, gồm đủ 8 đẳng cấp Linh hồn:
Ðức Chí Tôn giảng giải chữ Pháp nầy như sau:
(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 52):
'Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế giới nên mới gọi là PHÁP, PHÁP có mới sanh ra Càn Khôn Vạn vật, rồi mới có người nên gọi là TĂNG.
Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Ðạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy,'
Ðức Chí Tôn dùng Pháp tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ và Vạn linh, cho nên Vạn linh phải tùng theo Pháp của Ðức Chí Tôn.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Hai chất khí Dương quang và Âm quang không có hình thể sắc tướng. Ðức Phật Mẫu cho hai chất khí nầy phối hợp với nhau để biến hóa sanh ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật có hình thể mà mắt phàm trông thấy được.
Như thế, Ðức Phật Mẫu đã dùng cái KHÔNG vô hình vô ảnh biến hoá thành cái SẮC có hình tướng, thấy được bằng mắt phàm.
GIẢI NGHĨA:
Bát hồn gồm:
Do nơi đây, điều quan trọng mà chúng ta cần nhớ là: Trong chúng sanh, có:
đầu kiếp trong đó. Ðức Chí Tôn buộc người tu phải ăn chay trường là vì lẽ đó.
Ðức Cao Thượng Phẩm giáng cơ giảng về Bát Hồn:
'Ðêm nay, Bần đạo khởi giảng về Bát Hồn là gì?
Trong Càn Khôn Vũ Trụ có 8 đẳng Chơn hồn là:
Từ lúc Hỗn Ðộn sơ khai, Âm Dương biến hóa, trong Khí Hư Vô đã có sẵn các tế bào.
Sau tiếng nổ, Âm Dương phân tách: Khí Dương quang nhẹ nhàng bay lên trên, khí Âm quang là khí chất chứa các tế bào nên lóng xuống dưới.
Sau một Chuyển, các chất khí trên liên đới tế bào mà tụ lại biến thành vạn vật.
Khi chưa thành hình thể hữu vi, thì chất khí vẫn là một cục lửa do khí Dương quang đốt cháy, sau đó Diêu Trì Cung thâu Thập nhị Ðịa Chi mà biến khí Dương quang và chất khí làm Ngũ Hành.
Vậy cho nên, Ðất, Nước, Sắt, Ðá và Lửa được nẩy sanh trước hết. Ðó là Kim thạch hồn.
Sau một Chuyển nữa, Nước, Ðất, Ðá, Lửa, và Sắt mới tiêu ra một chất khí và liên đới với các tế bào mà tạo nên Cây cỏ. Ðó là Thảo mộc hồn.
Sau một Chuyển nữa, Cây cỏ chia tế bào mà liên đới với Ngũ Hành tạo nên Bách thú, trong đó có phần ở khô gọi là Ðiểu thú, còn phần ở nước gọi là Ngư thú. Ðó là Thú cầm hồn. Cầm thú đều là Bách thú.
Sau một Chuyển nữa, Ngũ Hành hiệp với Thảo mộc mà nuôi thú cầm. Trong Thú cầm, chơn hồn đã bước vào cơ tấn hóa, do đó tạo nên Thỉ Tổ loài người là La Hầu, tức là người Khỉ đó.
La Hầu lần lần sanh hóa, và nhờ điểm Linh quang của Chí Tôn mà lần đến loài người như hiện giờ, đó là Nhơn hồn.
Trong Nhơn hồn, từ buổi Tam Chuyển được tấn hóa thêm 4 phẩm nữa là:
Nhơn hồn nào đã được trọn trung, ấy đã vào Thần vị.
Biết được nghĩa chánh, bồi bổ đạo Nhơn luân, tức là vào Thánh vị. Ðến Thánh hồn thì lẽ tự nhiên phải thông suốt phần Thế đạo đó vậy.
Trong phần Thế đạo, mà tạo được Bí pháp đặng bước qua mặt Thể pháp Thiên Ðạo, tức là Tiên vị.
Ðã lập được Thể pháp Thiên đạo mà tầm nên Bí pháp Thiên đạo, tức là đắc Pháp, ấy là Phật vị.' (Trích Luật Tam Thể của Ðức Cao Thượng Phẩm)
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Những việc làm thiện ác trong kiếp sống trước là cái gốc rễ tạo thành cái Nghiệp, ảnh hưởng lên kiếp sống hiện tại, làm cho kiếp sống hiện tại giàu sang hay nghèo hèn, hạnh phúc hay đau khổ.
Do đó, thường nói là Căn quả, tức là cái kết quả do cái gốc rễ lúc trước tạo nên.
GIẢI NGHĨA:
Chuyển luân hay Luân chuyển là sự xoay vần như cái bánh xe, tức là chỉ sự Luân hồi Chuyển kiếp.
Các Chơn linh từ cõi thiêng liêng đầu kiếp xuống cõi trần, sống và tạo Nghiệp, rồi chết, linh hồn trở về cõi thiêng liêng để được định phân ngôi vị.
Nếu cái Nghiệp còn, chưa giải quyết xong, thì theo Luật Công Bình thiêng liêng, linh hồn đó phải tái kiếp xuống cõi trần để trả cho xong cái Nghiệp cũ ấy, nhưng linh hồn cũng đồng thời tạo ra Nghiệp mới.
Linh hồn thoát xác trở về, rồi phải trở xuống để trả cái Nghiệp vừa qua, cứ thế, lên lên xuống xuống, hết kiếp nọ đến kiếp kia, như một cái bánh xe xoay vòng, nên gọi là sự Luân hồi chuyển kiếp.
Chừng nào Nghiệp cũ đã trả hết mà không gây ra Nghiệp mới, lại lập được nhiều công quả, thì Linh hồn mới được trở về ở hẳn nơi cõi Thiêng liêng Hằng sống, đạt được phẩm vị cao trọng mà an hưởng hạnh phúc.
Nhờ sự chuyển luân trả vay nghiệp quả, Linh hồn học hỏi và chứng nghiệm được nhiều điều quí báu làm cho Linh hồn mỗi kiếp mỗi tiến hóa, và cuối cùng thì đạt được phẩm vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng.
GIẢI NGHĨA:
Hư vô là trống không, thấy không có gì cả, nhưng rất mầu nhiệm, vì từ cái KHÔNG ấy mà sinh ra trướcc cái CÓ, tức là sanh ra tất cả các pháp.
Bát quái: 8 quẻ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Ðoài.
Theo Vũ Trụ Quan của Ðạo Cao Ðài, khởi thủy của Càn Khôn Vũ Trụ là Khí Hư Vô. Khí Hư Vô hóa sanh Thái Cực, là ngôi của Ðức Chí Tôn Thượng Ðế.
Chúng ta lưu ý rằng, Ðức Phật Mẫu không định phẩm vị cho các con cái của Ngài, mà chỉ đem con cái trở về, rồi giao lại cho Ðức Chí Tôn định phẩm vị.
Cho nên, khi cúng Ðức Phật Mẫu, chúng ta chỉ mặc đạo phục toàn trắng thường, chớ không mặc đạo phục Chức sắc hay Chức việc.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Theo sự tích Hớn Võ Ðế cầu Phật Mẫu, Ðức Phật Mẫu giáng xuống Hoa Ðiện, ban tặng cho Hớn Võ Ðế 4 trái Ðào Tiên.
Hớn Võ Ðế ăn hết 2 trái, lấy hột bảo Thái Giám đem ương để trồng.
Ðức Phật Mẫu cười rằng: Trái Bàn đào nầy, không phải như trái cây của trần gian, 3000 năm mới ra hoa, 3000 năm mới kết trái, 3000 năm mới chín, đất thế gian mỏng lắm, không trồng được.
Theo lời thuyết đạo của Ðức Phạm Hộ Pháp, nơi Diêu Trì Cung, Ðức Phật Mẫu trụ Sanh quang lại làm thành một khối gọi là quả Ðào Tiên, có đủ sự sống vĩnh cửu nơi cõi Hư Linh.
Người được ban thưởng ăn trái Ðào Tiên nầy thì sẽ được sống lâu, sức khỏe cường tráng và hình dáng tốt đẹp.
GIẢI NGHĨA:
KHẢO DỊ:
GIẢI NGHĨA:
Ðức Phật Mẫu có nhiệm vụ độ rỗi để đem các Chơn linh là con cái của Người trở về, rồi giao cho Ðức Chí Tôn định phẩm vị theo đẳng cấp thiêng liêng.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Con người sống nơi cõi phàm trần thì có xác thân phàm, gọi là Ðệ nhứt xác thân. Khi trở về ở nơi cõi thiêng liêng thì phải có xác thân thiêng liêng.
Xác thân phàm trần bằng xương bằng thịt do cha mẹ phàm trần sanh ra và được nuôi dưỡng bằng các vật thực nơi cõi trần.
Còn xác thân thiêng liêng do Ðức Phật Mẫu dùng nguyên khí trong Kim Bàn Diêu Trì Cung tạo nên. Do đó, xác thân thiêng liêng rất huyền diệu, bất tiêu bất diệt, không bao giờ chết được.
Xác thân phàm trần cấu tạo bằng vật chất phàm trần, nên phải già rồi chết, nó sẽ thúi rã biến trở lại thành đất.
Ðức Chí Tôn giảng dạy về Chơn thần như sau:
'Chơn thần là gì?
Là Nhị xác thân, là xác thân thiêng liêng. Khi còn nơi xác phàm thì nó khó xuất riêng ra đặng, bị xác phàm kéo níu.
Cái Chơn thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật thì huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy.' (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 6)
Và Ðức Chí Tôn giảng dạy them về Chơn thần như sau:
'Mỗi kẻ dưới thế nầy đều có 2 xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel. Mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là Bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng.
Cái xác vô hình huyền diệu thiêng liêng ấy do nơi Tinh Khí Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Khi nơi xác phàm xuất ra thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập.
Còn khi đắc đạo mà có Tinh, Khí, không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng. Còn có Thần, không có Tinh, Khí thì khó huờn đặng Nhị xác thân. Vậy 3 món báu ấy phải hiệp mới đặng.
Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong Khí Tiên Thiên hằng có điển quang. Cái Chơn thần buộc phải tinh tấn, trong sạch, mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn Khôn đặng.
Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, Chí Phật mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết.' (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 30)
GIẢI NGHĨA:
Trong tôn giáo, siêu thăng là linh hồn được giải thoát khỏi các cõi đọa để bay trở về cõi thiêng liêng. (Cõi đọa là cõi Âm quang hoặc cõi trần).
Ở thế gian, Phụng liễn là chiếc xe dành riêng cho Nữ Vương, Nữ Hoàng hay Hoàng Hậu.
Ở cõi thiêng liêng, Phụng liễn là chiếc xe Tiên để rước các chơn hồn trở về cõi thiêng liêng.
GIẢI NGHĨA:
Cõi của chư Tiên và cõi của chư Phật được gọi chung là cõi Thiêng liêng Hằng sống.
Bài thi sau đây giải thích 2 chữ Cao Ðài.
| Linh Tiêu nhất tháp thị Cao Ðài, |
| Ðại hội quần Tiên thử ngọc giai. |
| Vạn trượng hào quang tùng thử xuất, |
| Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai. |
| (Trích bài giáng cơ của Ðức Chí Tôn tại Cần Thơ năm 1927) |
Nghĩa là:
| Nơi Linh Tiêu Ðiện có một cái tháp gọi là Cao Ðài, |
| Các vị Tiên họp Ðại Hội tại bệ ngọc ấy. |
| Ánh hào quang từ đó chiếu ra xa đến muôn trượng, |
| Tên xưa cảnh quí báu đó là Lạc Thiên Thai. |
Trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ðức Chí Tôn lấy tên đài ngự của Ngài làm danh hiệu. Cho nên, khi nói Ðấng Cao Ðài là Ðức Chí Tôn vậy.
Thời Tam Kỳ Phổ Độ, Ðức Chí Tôn lập tại cõi trần nầy một Trường thi Công quả. Ai thi đậu, thì rất vinh hạnh được Ðức Chí Tôn xướng danh.
GIẢI NGHĨA:
Một Chuyển được phân ra làm 3 Nguơn:
Quả Ðịa cầu 68 của chúng ta hiện nay đang ở vào thời kỳ cuối Hạ nguơn của Ðệ Tam Chuyển, sắp bước qua Thượng nguơn của Ðệ Tứ Chuyển.
Do đó thời kỳ nầy gọi là Hội Nguơn, vì là giao thừa giữa Hạ nguơn Tam Chuyển và Thượng nguơn Tứ Chuyển.
GIẢI NGHĨA:
Ðức Phật Di-Lạc sẽ đắc đạo tại cội cây Long Hoa nầy, cũng như Ðức Phật Thích Ca đắc đạo dưới cội cây Bồ Ðề.
Ðại Hội Long Hoa là một Hội lớn do Ðức Phật Di-Lạc làm chủ tọa, nhóm dưới cội cây Long Hoa để tuyển lựa người hiền đức.
(Kinh Ðại Tường: Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị)
Ðại Hội Long Hoa là hội thi chung kết, sau một giai đoạn tiến hóa dài của nhơn loại, để tuyển lựa những bậc hiền lương đạo đức, loại ra những kẻ gian tà hung bạo, thực hiện sự công bình thiêng liêng trong suốt một chặng đường tiến hóa của Vạn linh.
Những người hiền lương đạo đức có nhiều công quả giúp đời được thưởng bằng những phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật.
Trái lại, những người hung bạo gian tà sẽ bị chết thảm, linh hồn phải chờ đợi một thời gian dài để loài cầm thú tiến hoá lên làm người, rồi nhập vào mà bắt đầu học hỏi tiến hóa trong một vận hội mới và chuẩn bị cuộc thi mới.
GIẢI NGHĨA:
'Ðạo Cao Ðài chiếu theo luật Thiên đình, hội Tam giáo, mở rộng mối Ðạo Trời, ấy cốt để dìu dắt nhơn sanh bước lên con đường Cực Lạc, tránh khỏi đọa luân hồi....' (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I. 18)
GIẢI NGHĨA:
Trong kiếp sanh của chúng ta hiện nay, chúng ta may mắn gặp gỡ thời kỳ Ðức Chí Tôn mở Ðạo Cao Ðài, lập một Trường thi Công quả trong sự Ðại Ân Xá.
Chúng ta cố gắng học tập và lập công quả thế nào để đạt được điểm thật tốt trong Trường thi nầy. Ðây là một dịp may mắn hiếm có, ngàn năm một thuở!
'Ta nói cho chúng sanh biết rằng: Gặp Tam Kỳ Phổ Độ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.' (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I. 20)
GIẢI NGHĨA:
Ðức Phật ví cõi trần là biển khổ. Chúng sanh sống trong cõi trần như là đang ngụp lặn trong biển khổ đó.
Ðạo được ví như một chiếc thuyền để cứu vớt chúng sanh thoát qua biển khổ. Chiếc thuyền Ðạo đó là chiếc thuyền Bát Nhã.
Trí huệ là sự giác ngộ hiểu biết hoàn toàn sáng suốt về Ðạo lý. Nhờ Trí huệ, con người thoát khỏi Vô minh, mê muội và phiền não.
Người tu mà đạt được Trí huệ thì đã đến gần ngôi vị Tiên Phật.
Do đó, cái Trí huệ được ví như một con thuyền, gọi là Thuyền Bát Nhã, để đưa người giác ngộ đi qua biển khổ, thoát khỏi Luân hồi, đến cõi Phật. Muốn có Trí huệ thì phải Tu.
(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. I. 122): tả thuyền Bát Nhã.
| Khuôn thuyền Bát Nhã chẳng hề chìm, |
| Nổi quá như bông, nặng quá kim. |
| Có Ðạo, trong muôn ngồi cũng đủ, |
| Không duyên, một đứa cũng là chìm. |
Thuyền Bát Nhã do Ðức Phật Tổ lấy một cánh sen nơi cõi Cực Lạc Thế Giới, rồi dùng lửa Tam Muội làm cho biến hóa mà thành.
Trong thời Tam Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Di-Lạc Vương Phật , vâng lịnh Ðức Chí Tôn làm chủ Thuyền Bát Nhã, khai Ðại Hội Long Hoa, rước các Chơn hồn đầy đủ công đức vượt qua biển khổ, trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.
Câu kinh nầy có ý nói rằng: Ðức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương, vâng lịnh Ðức Chí Tôn giáng điễn xuống trần, dẫn dắt các vị nguyên căn, mở ra Ðạo Cao Ðài, để cứu giúp chúng sanh tu hành đắc đạo, vượt qua biển khổ, thoát khỏi luân hồi, giống như Ðức Phật Mẫu đem chiếc Thuyền Bát Nhã đến chở chúng sanh vượt qua biển khổ.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
CAN và CHI, theo chữ gốc là Cán và Chi. Cán là thân cây, Chi là cành cây. Thân cây và cành cây liên kết nhau mới thành một cái cây.
Tương truyền, vào thời vua Hiên Viên Huỳnh Ðế, có ông Ðại Nhiêu sáng tạo ra Thập Thiên Can và Thập nhị Ðịa Chi dùng để tính thời gian và làm lịch.
Khi sáng tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ, người và vạn vật, Ðức Chí Tôn dùng Thập nhị Ðịa Chi đặt tên cho các khoảng thời gian sáng tạo:
Nghĩa là:
(Hội là một khoảng thời gian rất dài, lớn hơn một Chuyển. Một Hội có nhiều Chuyển, một Chuyển có 3 Nguơn: Thượng Nguơn, Trung Nguơn, Hạ Nguơn).
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Nguơn linh là những linh hồn được sanh ra từ lúc Khai Thiên, đầu thai xuống trần, được gọi là Nguyên nhân.
Khi Quỉ hồn đầu kiếp nơi cõi trần để làm người thì được gọi là Quỉ nhân.
Nơi cõi trần có 3 hạng người phân chia theo phẩm chất của Linh hồn: Nguyên nhân, Hóa nhân, Quỉ nhân.
Nguyên nhân và Hóa nhân, nếu gây ra nhiều tội lỗi nặng nề, phạm Thiên điều thì linh hồn bị đọa vào Quỉ vị, biến thành Quỉ hồn.
Dù là Nguyên nhân, Hóa nhân hay Quỉ nhân, tất cả cũng đều là con cái của Chí Tôn và Phật Mẫu.
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là Ðại Ân Xá Kỳ Ba, tận độ chúng sanh, nên Phật Mẫu từ bi cứu giúp toàn cả con cái của Ngài để tất cả đều được siêu thăng.
(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 85): 'Bần đạo chẳng kể là Nguyên nhân, Hóa nhân hay Quỉ nhân, ví biết lập công thì thành đạo.'
GIẢI NGHĨA:
Quả căn hay Căn quả là cái kết quả tốt hay xấu của kiếp sống hiện tại là do gốc rễ là những việc làm thiện hay ác trong kiếp trước.
Nếu trong kiếp sống hiện tại gặp nhiều hoạn nạn là bởi căn xưa không lành.
Vô siêu đọa cũng có thể được giải thích là: Không đày đọa quá mức. Siêu là quá mức.
Câu 33: Không đày đọa quá mức, căn quả của mỗi người đều có luật pháp định rõ. Bởi vì trong Câu kinh 32, tất cả đều được siêu thăng, dầu Quỉ hồn cũng vậy.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Ý nói: Ðịa ngục và cửa quỉ đã bị đóng cửa hoàn toàn, không còn được dùng làm nơi giam giữ, đày đọa và trừng phạt các tội hồn.
GIẢI NGHĨA:
Khi Ðức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thì Ðức Chí Tôn cũng mở ra một cuộc Ðại Ân Xá cho các đẳng chơn hồn trong khắp Càn Khôn Vũ Trụ. (Xem chi tiết ngay ở phần sau)
Kể từ ngày khai Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn mở ra một thời kỳ Ðại Ân Xá cho toàn thể chúng sanh và cho các đẳng linh hồn.
Muốn hưởng được sự ân xá nầy, mỗi người phải biết thành tâm hối lỗi, ăn năn sám hối tội tình, cải tà qui chánh, nguyện thề từ bỏ các lỗi lầm để chuyên tâm lo việc tu hành, lập công bồi đức.
"Mỗi lần Khai Ðạo là Ðức Chí Tôn Ðại Ân Xá, tức là ban cho những người biết hồi đầu hướng thiện và lo việc tu hành, một ân huệ lớn lao, nghĩa là những tội lỗi của họ đã chồng chất từ mấy kiếp trước được Ơn trên bôi xóa và cho họ làm một Tân dân (người dân mới) trong cửa Ðạo với một Tư Pháp Lý Lịch còn trinh bạch.
Nhờ vậy, người nhập môn hành đạo mới rảnh nợ tiền khiên, chỉ lo trau giồi Ðạo hạnh và lập công bồi đức, là đắc đạo trong một kiếp tu.
Hạ nguơn nầy, Ðức Chí Tôn lập Ðạo Kỳ Ba, nên mới có Ðại Ân Xá Kỳ Ba.
Phép Giải Oan, Phép Cắt Dây Oan Nghiệt, Phép Ðộ Thăng và các phép Bí tích khác của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ được đem áp dụng trong sự thi hành luật Ðại Ân Xá đó vậy."
(Trích Giáo lý Bài 18, Khóa Huấn Luyện Giáo Hữu, tại Tòa Thánh Tây Ninh)
Ngày chánh thức Khai Ðạo là 15-10 Âm lịch, tức là Rằm Hạ nguơn năm Bính Dần (1926) là ngày khởi đầu thời kỳ Ðại Ân Xá Kỳ Ba, Ðức Chí Tôn ban cho nhơn loại những ơn huệ đặc biệt sau đây:
| May đặng gặp hồng ân chan rưới, |
| Giải trái oan sạch tội tiền khiên. |
| (Kinh Giải Oan) |
| Chí Tôn xá tội giải oan, |
| Thánh Thần Tiên Phật cứu nàn độ căn. |
| Ơn Tạo Hóa tha tiền khiên trước, |
| Ðưa linh phan tiếp rước nguyên nhân. |
| Kinh Cầu Bà Con Thân Bằng Cố Hữu Ðã Qui Liễu |
Phước nhiều thì được phong thưởng bằng những phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật tương xứng.
Nếu tội nhiều thì bị đưa về cõi Âm Quang, vô Tịnh Tâm Xá mà định tâm tịnh trí, ăn năn sám hối tội tình, cầu nguyện Ðức Chí Tôn độ rỗi.
Tại cõi Âm Quang có Thất Nương Diêu Trì Cung giáo hóa các Nữ tội hồn, và Ðịa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các Nam tội hồn.
Các tội hồn không còn bị giam giữ và bị hành hình trong Ðịa ngục nữa, mà được đưa đến cõi Âm Quang để học Ðạo, cầu khẩn Ðức Chí Tôn độ rỗi, chờ ngày trở lại cõi trần đặng tái kiếp mà trả cho xong căn quả.
Nếu người nào quyết chí tu hành, chỉ trong một kiếp tu cũng đủ đắc đạo.
| Ðóng Ðịa ngục, mở tầng Thiên, |
| Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương. |
| (Kinh Giải Oan) |
Thời kỳ Ðại Ân Xá không phải kéo dài mãi mãi đến thất ức niên (700 000 năm) mà chỉ được giới hạn trong giai đoạn đầu của thời kỳ Khai Ðạo.
Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng không tiết lộ cho biết Ðại Ân Xá kéo dài trong bao nhiêu năm, nhưng theo sự khảo cứu tổng hợp các tài liệu, thì thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn bắt đầu kể từ ngày Khai Ðạo 15 tháng 10 năm Bính Dần (1926), cho đến khi Ðức Phật Di-Lạc khai Ðại Hội Long Hoa, là chấm dứt, vì đã bước qua một chu trình tiến hóa mới của nhơn loại.
Chúng ta hôm nay gặp Ðạo Cao Ðài là một duyên may ngàn năm một thuở, nếu không mau tiến bước trên đường tu hành, cứ để ngày tháng lần lừa trôi qua, thì có mong chi đắc quả, trở về ngôi vị cũ.
GIẢI NGHĨA:
Huyên là loại cỏ sống lâu năm, người xưa cho rằng ăn cỏ huyên thì khỏi buồn phiền, nên cỏ huyên còn có tên là Vong Ưu thảo.
Trong Kinh Thi có câu:
Ðời xưa, chái nhà phía Bắc là chỗ ở của mẹ. Trồng cỏ huyên nơi chỗ ở của mẹ là có ý muốn cho mẹ khỏi buồn phiền.
Do đó, trong văn học cổ, người ta dùng chữ Huyên đường (Nhà huyên) là để chỉ người mẹ.
GIẢI NGHĨA:
Anh nhi là chỉ chung con cái của Ðức Phật Mẫu, tức là toàn thể nhơn loại, vì Ðức Phật Mẫu xem nhơn loại là con cái nhỏ dại của Người.
GIẢI NGHĨA:
Trang Tử có nói:
Nghĩa là:
Ý nói không thể biết rõ lòng dạ của người ta được.
Thơ của Bùi Ðộ nhà Ðường có câu:
Nghĩa là:
Như vậy thì cái Tâm của con người không có hình sắc, mầu nhiệm thiêng liêng.
Chúng ta không thể nhìn thấy cái Tâm được, nhưng có thể nhận biết nó, vì cái Tâm có bản chất lành, nên gọi là Lương Tâm, thường khiến con người làm điều hay sự phải, giục con người mến đạo đức chuộng tinh thần, biết thuận tùng Thiên lý.
Người làm điều không phải thì bị Lương Tâm cắn rứt. Kẻ làm ác là vì cái Tâm bị vật dục che lấp nên không còn điều khiển hành vi theo đường chơn thiện.
Tâm sáng thì gần Tiên Phật, Tâm u tối thì gần Quỉ ma.
Linh đài cũng là cái Tâm của Vũ trụ. Ðó chính là Thiên nhãn (Nhãn thị chủ Tâm), tượng trưng cho khối đức tin của nhơn loại.
Ðức tin đó là nhận hai Ðấng Chí Tôn và Phật Mẫu là Ðại Từ Phụ và Ðại Từ Mẫu của nhơn loại.
Có Ðức tin vững chắc như thế thì nhơn loại mới nhìn nhau là anh em một nhà, mới thương yêu giúp đỡ nhau. Ðó là yếu tố then chốt tiến đến Ðại Ðồng nhơn loại.
GIẢI NGHĨA:
Xã hội Ðại Ðồng là một xã hội trong đó, khắp mọi nơi đều hòa bình vui vẻ, mọi người đều bình đẳng, không còn phân biệt giai cấp, chủng tộc, xem nhau như anh em một nhà.
Ðó là một xã hội thái bình an lạc lý tưởng, là đời Thượng nguơn Thánh đức.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Ðó chính là cái Tâm chơn chánh và lành, nên gọi là Lương Tâm.
Lương Tâm chỉ là sự thể hiện của Chơn linh, mà Chơn linh là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho mỗi người.
Bấy lâu nay, cái Tâm của con người bị lục dục thất tình che lấp, không làm chủ con người, nên lần lần con người đi vào đường vật chất, gây ra lắm tội tình.
Nếu kềm chế được thất tình và lục dục thì Thiên lương sẽ được sáng tỏ trở lại, làm chủ con người, khiến con người đi vào đường đạo đức.
GIẢI NGHĨA:
Mới nhìn thì Xuân Thu là một quyển sách lịch sử của nước Lỗ, nhưng Ðức Khổng Tử đã vận dụng văn tự, và bút pháp để khen chê, phân biệt tà chánh rất minh bạch và đanh thép, nên người đời sau phải công nhận đó là những búa rìu trong Kinh Xuân Thu.
Nghĩa là:
Như thế, Kinh Xuân Thu là sách để Tâm truyền đại nghĩa Danh và Phận về đường luân lý và chánh trị.
Ðức Khổng Tử nói:
Nghĩa là:
Kinh Xuân Thu là biểu tượng của Khổng Tử, Ðạo Cao Ðài chọn Kinh Xuân Thu làm Cổ pháp tượng trưng Nho giáo.
Thường thì con chủ đi trước, đàn hươu đi theo sau, đuôi con chủ phẩy sạch bụi, nên ngày xưa thường dùng đuôi con chủ làm cây phất trần, tức là cây chổi quét bụi; vì thế cây Phất trần còn được gọi là Chủ vĩ (đuôi con chủ).
Trong truyện Tam quốc, sau khi Quan Công bị chém đầu, hồn bay phưởng phất trên đỉnh núi Ngọc Tuyền đòi trả đầu lại, Phổ Tịnh Thiền Sư lấy "Ðuôi chủ" gõ vào cửa để gọi hồn Quan Công.
Quan Công liền đáp xuống ra mắt Thiền Sư. Thiền Sư giải rõ về Nhơn Quả, Quan Công liền tỉnh ngộ và hiển Thánh.
Vậy, Phất chủ là cây chổi làm bằng đuôi con chủ, để các vị Tiên quét bụi.
Ðây là cây chổi Tiên để quét sạch bụi trần bám vào che lấp cái Tâm, để cái Tâm trở nên trong sạch và sáng tỏ.
Theo Bí pháp Tiên gia, Phất chủ kết tụ điển khí của Thất bửu Diêu Trì Cung, dùng sửa trau Chơn thần cho tinh khiết.
Nguồn gốc của cây Phất chủ là của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân, một bảo vật của Tiên gia có phép thuật rất huyền diệu. Các vị Tiên thường cầm Phất chủ.
Do đó, Ðạo Cao Ðài chọn Phất chủ làm Cổ Pháp tượng trưng Tiên giáo.
Mỗi vị Sư, khi thọ giới cụ túc thì được vị Hòa Thượng nhơn danh Giáo Hội truyền cho một cái Bát, hoặc khi cái Bát bị hư bể thì cũng được Giáo Hội phát cho cái khác.
Bình Bát vu (Bát) và áo Cà sa (Y), gọi tắt là Y Bát, của Ðức Phật Thích Ca là 2 tín vật quí báu để truyền ngôi Tổ Sư Phật giáo.
Khi Ðức Phật Thích Ca tịch, Ngài truyền Y Bát nầy lại cho Ma Ha Ca Diếp làm tín vật để kế thừa Ngài, giữ ngôi Nhứt Tổ Phật giáo Ấn Ðộ, điều hành toàn bộ Giáo hội Phật giáo.
Y Bát nầy truyền dần xuống đến đời Tổ Sư 28 là Ðạt Ma Tổ Sư, thì Y bát theo Ðạt Ma Tổ Sư chuyển qua nước Trung Hoa để mở mang Phật giáo tại đây. Ðạt Ma Tổ Sư trở thành Sơ Tổ của Phật giáo Trung Hoa.
Tại đây, Ðạt Ma Tổ Sư truyền Y Bát qua 4 đời Tổ nữa, thì đến Lục Tổ Huệ Năng, sau đời Lục Tổ Huệ Năng thì không còn lệ truyền Y Bát nữa, vì theo lời dặn dò của Ðạt Ma Tổ Sư, sau 200 năm kể từ ngày Ngài nhận Y Bát làm Tổ thì không được truyền kế nữa.
Lục Tổ Huệ Năng là vị Tổ Sư cuối cùng có Y Bát, chắc chắn các Tổ Sư biết rằng, sau đời Lục Tổ Huệ Năng thì Phật giáo bắt đầu thất Chơn truyền, bước vào thời kỳ Mạt Pháp.
Ðạo Cao Ðài chọn Bình Bát vu làm Cổ Pháp tượng trưng Phật giáo.
Như vậy, Tam giáo: Nho, Thích, Lão, được tượng trưng bằng 3 Cổ Pháp:
Ghép chung 3 Cổ Pháp nầy lại để nói lên ý nghĩa là: Tam giáp qui nguyên, tức là đem 3 nền Tôn giáo nầy cùng trở về một gốc, gốc đó là nguồn cội của Càn Khôn Vũ Trụ, là Thái Cực, là Thượng Ðế vậy.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Ðó là cái tánh tốt đẹp và lành mà Trời ban cho mỗi người.
Phật tánh cò được gọi là: Giác tánh, Như Lai tánh.
Con người ai ai cũng đều có Phật tánh, cho nên nếu biết lo tu hành thì đều thành Phật.
Dầu cho kẻ thiện hay người ác đều có Phật tánh như nhau, nhưng kẻ ác thì Phật tánh bị vật dục che lấp hoàn toàn, còn người thiện thì Phật tánh tỏ rạng.
Câu nói nổi tiếng của Lục Tổ Huệ Năng khi trả lời câu hỏi của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn: "Người đành có Nam Bắc, tánh Phật há vậy sao ?"
Chỉ có Phật thì Phật tánh hoàn toàn sáng suốt.
Theo Niết Bàn Kinh, Phật tánh có 7 tính chất:
Vậy, Phật tánh là cái bổn tánh trong sạch thiện lương mà Trời ban cho mỗi người. Cho nên cũng gọi là Thiên tánh.
Các Nguyên nhân đầu kiếp xuống trần thì bị nhiễm trược trần, bị vật dục che lấp Phật tánh, làm cho Phật tánh dường như mất đi.
Nay, Ðức Phật Mẫu đến giúp họ giác ngộ, cởi bỏ bức màn vô minh, thì Phật tánh tỏ rạng, giống như là đã đem Phật tánh hoàn trả cho họ.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Tương truyền, nơi Âm phủ có 9 dòng suối. Theo Thế Thuyết, sau khi Ân Trọng Kham chết, Hoàn Huyền hỏi Ân Trọng Văn: - Cha ngươi là Trọng Kham là người thế nào?
Trọng Văn đáp: - Tuy không thể làm sáng tỏ một đời, cũng đủ soi rọi khắp Chín suối.
GIẢI NGHĨA:
Cái Công bình nơi cõi thiêng liêng được tượng trưng bằng Cây Cân Công Bình của Ðức Chí Tôn.
Cái công bình đó mới là tuyệt đối, vì không có chi có thể khuất lấp được, còn cái công bình nơi phàm trần chỉ là cái công bình tương đối, vì sự phán xét của con người có giới hạn, và luật pháp do con người đặt ra có tánh cách tương đối. Vì thế, người ta gọi Thượng Ðế là Ðấng Chí Công.
GIẢI NGHĨA:
Trong Ðạo Sử của Bà Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu, Quyển I trang 28-29, có ghi lại sự tích Ðức Phật Mẫu giáng dạy 3 vị Phò loan Vọng Thiên Cầu Ðạo.
Ba vị Phò loan là:
"Ngày 27-10-Ất Sửu (dl 12-12-1925), Bà Cửu Thiên Huyền Nữ giáng mách bảo rằng: - Mùng 1 nầy, tam vị đạo hữu Vọng Thiên Cầu Ðạo.
Bà thăng rồi, ba ông hợp nhau bàn giải không hiểu Cầu Ðạo là gì mà Bà dạy, để cầu hỏi mấy Em.
Ngày sau, ba ông cầu Thất Nương hỏi: - Thất Nương dạy giùm Cầu Ðạo là gì ?
Thất Nương nói: - Không phải phận sự của Em, xin hỏi Ông A Ă Â.
Ngày sau nữa, có các Ðấng giáng về, ba ông cũng hỏi thì các Ðấng cũng nói: - Không phải phận sự của tôi, xin hỏi Ông A Ă Â.
Ngày 30-10-Ất Sửu (dl 15-12-1925), Ông AĂÂ giáng dạy rằng:
- "Ngày mùng 1 tháng 11 nầy (dl 16-12-1925), tam vị phải Vọng Thiên Cầu Ðạo. Tắm gội cho tinh khiết, ra quì giữa Trời, cầm 9 cây nhang mà vái rằng: Ba tôi là Cao quỳnh Cư, Phạm công Tắc, Cao hoài Sang, vọng bái Cao Ðài Thượng Ðế, ban ơn đủ phước lành cho 3 tôi cải tà qui chánh."
Nhớ lời Ông A Ă Â dạy, ba ông quì ngoài sân, sắp đặt có một cái bàn nhỏ, quì chống tay trên bàn, mỗi người cầm 9 cây nhang vái y như lời Ðấng AĂÂ dạy bảo.
Ba ông cứ tịnh tâm mặc niệm vái như lời Ông AĂÂ dạy, không nhớ tới cái vụ quì ngoài đường, có kẻ qua người lại dập dìu, lớp thì xe cộ họ đi chơi, đi coi hát về, họ dừng chân lại coi ba ông nầy cúng vái ai mà quì ngoài sân cỏ như vậy.
Ai coi mặc ai, ba ông cứ quì đó cầu khẩn van vái cho tàn hết 9 cây nhang."
Qua đoạn Ðạo Sử trên, chúng ta nhận thấy Ðức Phật Mẫu ra lịnh Vọng Thiên Cầu Ðạo, tức là bắt đầu Khai Tông Ðịnh Ðạo, nhưng mọi việc sắp đặt đều do Ðức Chí Tôn.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Ðấng Tạo Hóa: Theo ngôn ngữ thông thường, Ðấng Tạo Hóa là Ông Trời, tức là Ðấng Thượng Ðế, là Ðức Chí Tôn, nhưng thật ra, theo Triết lý của Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn giao nhiệm vụ tạo hóa cho Ðức Phật Mẫu, nên từng Trời của Ðức Phật Mẫu ngự gọi là Tạo Hóa Thiên.
Ðức Phật Mẫu chưởng quản Khí Âm quang, thâu lằn Sanh quang của Ngôi Thái Cực, rồi bắt lấy Khí Dương quang của Ðức Chí Tôn, cho phối hợp với Âm quang của Phật Mẫu, tạo hóa ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.
Cho nên Ðấng Tạo Hóa thực sự là Ðức Phật Mẫu ở từng Trời Tạo Hóa Thiên.
Nhưng vì Ðức Phật Mẫu là một hóa thân của Ðức Chí Tôn, và nhiệm vụ Tạo Hóa là do Ðức Chí Tôn ban cho, nên nói Ðấng Tạo Hóa là Ðức Chí Tôn thì cũng đúng.
GIẢI NGHĨA:
Ý nói: Chúng ta phải cúng lạy Ðức Phật Mẫu cho thường, cúng sáng, cúng trưa, cúng tối, điều đó giống y như là chúng ta đến săn sóc và viếng an Ðức Mẹ vậy.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo, thích nghĩa và nói rõ nguồn gốc bài Phật Mẫu Chơn Kinh tại Cửu Long Ðài trước Báo Ân Từ lúc 4 giờ chiều ngày 15-8-Ðinh Hợi (1947), có in trong quyển Thuyết Ðạo của Ðức Hộ Pháp, Quyển 1 trang 64, xin trích ra sau đây:
"Ngày nay là ngày Ðại lễ Ðức Diêu Trì Kim Mẫu, Bần đạo tưởng cả thảy toàn Ðạo nên biết quyền hành của Phật Mẫu như thế nào? Và tại sao chúng ta thờ Người?
Muốn biết quyền hành ấy, Bần đạo phải thuyết minh và giải nghĩa bài Kinh Ðức Phật Mẫu mà chúng ta thường tụng niệm hằng ngày đó.
Trước khi giải nghĩa, Bần đạo cũng nên nói rõ ai đến cho bài Kinh ấy? Cho hồi nào? Và tại nơi đâu?
Kinh Ðức Phật Mẫu cho tại Kim Biên Tông Ðạo (Cao Miên quốc), nơi Báo Ân Ðường của hai vợ chồng Thừa Sử Huỳnh hữu Lợi.
Lúc trước chưa có Kinh Phật Mẫu, chúng ta chỉ biết Phật Mẫu đến Hiệp Thiên Ðài khai Ðạo Cao Ðài, nhờ thi phú văn tự của Cửu Vị Tiên Nương cho biết nguyên do đến Khai Ðạo, chớ chúng ta chưa biết quyền hành của Người.
Nơi Kim Biên, cả Chức sắc Hội Thánh Ngoại Giáo đều cầu kinh, khiến khi đó Bần đạo đến nhằm lúc cúng Vía Phật Mẫu. (tức là ngày 15 tháng 8 năm......?)
Bát Nương đến cầm cơ viết, chính mình Bần đạo phò loan nơi Ðại Ðiện. Có nhiều người làm chứng, có chư Ðạo hữu và một người không biết Ðạo là gì là Ông Hiếu (kêu Bần đạo bằng Chú) ngồi trước sân chơi, thấy tứ phía đều có hào quang giáng hạ, xẹt xuống rất ngay Báo Ân Ðường.
Tới chừng cho trọn bài Kinh rồi, cả thảy đều nói lại, không biết cái gì xẹt khi nãy như sao xẹt qua xẹt lại vậy, không dè trong nhà đương phò loan.
Có cháu của Bần đạo và nhiều Ðạo hữu ở ngoài đều làm chứng quả quyết như vậy."
Từ trước đến nay, các nền tôn giáo mở ra trên thế giới đều chỉ biết thờ Ngôi Dương như
Không có một tôn giáo nào biết thờ Ngôi Âm. Chỉ có Thiên Chúa giáo có thờ Ðức Mẹ Maria, Mẹ của Ðức Chúa Jésus, nhưng chưa phải là thờ Ngôi Âm.
Chúng ta đã biết, trong Càn Khôn Vũ Trụ nầy, không phải chỉ có Ngôi Dương, mà luôn luôn phải có Ngôi Âm đi kèm theo, thì mới có đủ 2 yếu tố Âm Dương để tạo thành cơ sanh hóa.
Một Dương không thể sanh, một Âm cũng không sanh, phải có đủ cả Âm Dương mới sanh hóa được.
Theo Thánh giáo của Ðức Chí Tôn, khởi thủy của Càn Khôn Vũ Trụ là Hư Vô chi Khí (tức là ÐẠO).
Khí Hư Vô mới sanh ra một Ðấng duy nhứt là Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, và ngôi của Ngài là Thái Cực (tức là khối Ðại Linh Quang).
Ðức Chí Tôn mới phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi:
Ðức Chí Tôn chưởng quản Dương quang. Ðức Chí Tôn hóa thân ra làm một Ðấng khác gọi là Phật Mẫu để chưởng quản khí Âm quang.
Như vậy, nguồn gốc của Phật Mẫu là Ðức Chí Tôn, và Ðức Phật Mẫu chỉ là một hóa thân của Ðức Chí Tôn.
Sau đó, Ðức Phật Mẫu thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Dương quang phối hợp với Âm quang để tạo thành Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.
Do đó, Ðức Phật Mẫu mới thực sự là Ðấng Tạo Hóa. Nhiệm vụ nầy có được là do Ðức Chí Tôn ban cho.
"Theo Bí pháp chơn truyền của Cơ Sanh hóa, phải có đủ Âm Dương.
Trong Sanh quang, chúng ta có điện quang Positif (dương) và Négatif (âm), cũng như vạn vật có trống mái. Nền tôn giáo nào có đủ Âm Dương thì mới vĩnh cửu.
Như Ðức Chúa Jésus ngày trước bị đóng đinh trên cây Thánh giá, đầu thuận lên trên gọi là đạt Dương. Ông Thánh Pierre là đệ nhứt tông đồ bị đóng đinh trở ngược xuống, gọi là phản Âm.
Âm Dương tương hiệp đúng theo Bí pháp, nên Ðạo Thánh lưu truyền 2000 năm, không ai dùng quyền gì tiêu diệt đặng.
Thời kỳ nầy, Ðức Phật Mẫu đã xuất nguyên linh của Người đến đây dạy dỗ chúng ta thì tưởng điều ấy trọng yếu hơn hết.
Khi mở Ðạo Cao Ðài, Chí Tôn định cho Phật Mẫu đến giáo đạo cho chúng ta, bảo trọng nuôi nấng, dạy dỗ chúng ta, thì không có ân đức nào bằng, vì không ai biết thương con hơn MẸ.
Phật Mẫu đến cầm quyền lập Ðạo xong, rồi giao lại cho Ðức Chí Tôn.
Phật Mẫu là Chủ Âm quang, Chí Tôn là Chủ Dương quang.
Âm Dương tương hiệp, Ðạo Cao Ðài nuơng theo năng lực của hai khối Âm Dương đó.
Ðối với năng lực tạo đoan Càn Khôn Thế Giới thế nào thì Ðạo Cao Ðài ngày kia sẽ có năng lực như thế đó." (Trích Thuyết đạo của Ðức Phạm Hộ Pháp, Quyển 1 trang 70)
Việc Ðạo Cao Ðài thờ Hai Ngôi:
Với đầy đủ kinh kệ và nghi tiết, là một hình thức vô cùng mới mẻ về phương diện Giáo lý và Triết lý mà các nền tôn giáo trước đây chưa từng có.
Do đó, Ðạo Cao Ðài xứng đáng là một nền Tân Tôn giáo và là một nền Ðại Ðạo.
Tòa Thánh và các Thánh Thất dùng để thờ Ngôi Dương là Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.
Ðiện Thờ Phật Mẫu dùng để thờ Ngôi Âm là Ðức Phật Mẫu hay Ðức Diêu Trì Kim Mẫu.
Hai ngày lễ vía Hai Ðấng ấy hằng năm là 2 ngày Ðại Lễ chánh thức lớn nhứt của Ðạo Cao Ðài. Ðó là:
Quyền hành và nhiệm vụ của Ðức Phật Mẫu được Bát Nương cho biết rõ trong bài Phật Mẫu Chơn Kinh.