| Column 1 of row 1 | Column 2 of row 1 |
| Column 1 of row 2 | Column 2 of row 2 |
Kinh Cầu Tổ Phụ Ðã Qui Liễu
| KINH: | GIẢI NGHĨA: |
| 1.2. Giọt máu mủ lưu truyền tại thế, Con nhẫng mong truyền kế lửa hương. |
Ðứa con của dòng họ còn lưu truyền nơi cõi đời, con chỉ mong tiếp nối sự thờ cúng tổ tiên. |
| 3.4. Nguyện cùng Thất Tổ xin thương, Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay. |
Cầu nguyện Thất Tổ xin thương con, phò hộ con cho ý chí được bền vững để noi theo con đường thảo ngay. |
| 5.6. Xưa chẳng đặng phước may gặp Ðạo, Nay phò trì con cháu tu tâm. |
Thuở xưa, Thất Tổ không đặng phước may gặp Ðạo Cao Ðài, nay xin giúp đỡ và gìn giữ con cháu tu tâm trong cửa Ðạo Cao Ðài. |
| 7.8. Dâng gươm huệ kiếm xin cầm, Chặt lìa trái chủ đặng tầm ngôi Thiên. |
Dâng lên cây gươm trí huệ, xin cầm lấy để chặt cho đứt lìa các dây oan nghiệt mà các chủ nợ ràng buộc, thì mới lên được cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, tìm về ngôi vị cũ. |
| 9.10.11.12. Dầu tội chướng ở miền Ðịa giái, Dầu oan gia ở ngoại Càn Khôn, Dầu mang xác tục hay hồn, Nhớ cầu Từ Phụ Chí Tôn cứu nàn. |
- Mặc dù đã gây ra các tội chướng nơi cõi trần,
- Mặc dù gặp phải các oan gia ở bên ngoài cõi trần, - Mặc dù còn mang xác phàm hay chỉ còn linh hồn, - Phải nhớ cầu khẩn Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ cứu nạn. |
| 13.14.15.16. Dầu đoạt vị ở an Thiên cảnh, Dầu tái sanh mở cảnh siêu phàm. Nương thuyền Bát Nhã cho an, Dìu chừng con cháu vào đàng nghĩa nhân. |
- Dù đã đoạt được ngôi vị và ở yên nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống,
- Dù đã tái kiếp xuống cõi trần và mở ra một sự nghiệp phi thường, - Xin nương dựa vào chiếc thuyền Bát Nhã để vượt qua biển khổ cho được yên ổn, - Xin dìu dắt và coi chừng tất cả con cháu đi trọn vẹn trong con đường đạo đức. |
| 17.18. Kìa lố bóng hồng ân bao phủ, Cả thế gian đầy đủ đạo mầu. |
Kìa là ánh sáng hiện ra chứa đầy ơn huệ của Chí Tôn, bao phủ khắp cả thế gian, đầy đủ Ðạo pháp mầu nhiệm. |
| 19.20. Âm dương đôi nẻo như nhau, Cửu Huyền Thất Tổ giữ câu thọ trì. |
Nơi cõi của người sống và nơi cõi của người chết, 2 con đường đều như nhau. Xin Cửu Huyền Thất Tổ nhận lấy và gìn giữ các lời dạy bảo của Ðức Chí Tôn để thi hành. |
| 21.22. Chốn Tây phương đường đi thong thả, Cõi Diêm Cung tha quả vong căn. |
Cõi Tây phương Cực Lạc Thế Giới, đường đi đến đó rất thong thả. Cõi Ðịa ngục, các vị Diêm Vương tha thứ và quên đi các căn quả (do thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn: Ðóng Ðịa ngục, mở tầng Thiên). |
| 23.24. Tiêu diêu định tánh nắm phan, Dò theo Cực Lạc đon đường siêu thăng. |
Giữ cho Chơn thần được yên ổn để đi theo cây phướn Tiêu Diêu, dò theo con đường đi lên cõi Cực Lạc Thế Giới mà bay thẳng lên cao. |
| 25.26. Nhớ nỗi hiếu khó ngăn nét thảm, Tưởng nguồn ân đốt nắm tâm hương. |
Nhớ đến nỗi niềm hiếu thảo mà không ngăn được dòng lệ. Nhớ tưởng đến ơn huệ của Tổ Tiên, xin đốt dâng lên nắm tâm hương. |
| 27.28. Tấc lòng đòi đoạn đau thương, Chơn mây vái với hương hồn hiển linh. |
Tấm lòng của con cháu vô cùng đau đớn thương tiếc, nguyện vái với hương hồn của Tổ phụ nơi cõi Trời hiển linh xin chứng. |
(Tụng tiếp KINH CỨU KHỔ)
Trong một trường hợp khác, Tổ phụ có nghĩa là Ông Nội, Tổ mẫu là Bà Nội.
Ý nói: Sự chết nơi cõi trần, linh hồn xuất ra khỏi xác bay trở về cõi thiêng liêng.
Ðạo Cao Ðài quan niệm rằng, con người sanh ra nơi cõi trần đều có lãnh một sứ mạng Thiêng Liêng do Ðức Chí Tôn giao phó.
Sau khi làm xong công việc thì linh hồn xuất ra khỏi xác phàm, bay trở về cõi Thiêng Liêng phục lịnh.
Ở cõi trần gọi đó là chết.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
| 7 | Thất Tổ: | Thỉ Tổ Tỷ Khảo | |
| 6 | Lục Tổ: | Cao Cao Tổ Tỷ Khảo | |
| 5 | Ngũ Tổ: | Viễn Tổ Tỷ Khảo | |
| 4 | Tứ Tổ: | Tiên Tổ Tỷ Khảo | |
| 3 | Tam Tổ: | Cao Tổ Tỷ Khảo | Ông Sơ Bà Sơ đã chết |
| 2 | Nhị Tổ: | Tằng Tổ Tỷ Khảo | Ông Cố Bà Cố đã chết |
| 1 | Nhứt Tổ: | Nội Tổ Tỷ Khảo | Ông Nội Bà Nội đã chết |
Chỉ kể 7 vị Tổ của dòng họ mà không kể lên đến các vị Tổ lớn hơn nữa là vì Lễ Nghi xưa của Nho giáo qui định rằng:
Những Linh vị của các vị Tổ đứng trên hàng Thất Tổ được đem đốt, lấy tro đổ vào một cái hủ đặt ngay giữa bàn thờ Thất Tổ gọi là Hủ tro Mộc chủ.
Cho bền gan tấc là giữ ý chí và lòng dạ bền vững dù gặp nguy hiểm.
GIẢI NGHĨA:
Ðức Chí Tôn mở Ðạo Cao Ðài kể từ ngày 15-10-Bính Dần (1926). Những vị nào chết trước ngày nầy thì không có phước may gặp Ðạo, để hưởng được thời kỳ Ðại Ân Xá của Ðức Chí Tôn cứu rỗi.
GIẢI NGHĨA:
Mình là con nợ, người ta là chủ nợ. Lúc nào đó, người ta sẽ buộc mình phải trả món nợ oan nghiệt ấy.
Ý nói: Xin dùng cái trí huệ diệt trừ các oan nghiệt đã gây ra nơi cõi trần thì mới được trở về ngôi vị cũ nơi cõi Thiêng Liêng.
GIẢI NGHĨA:
Chướng là trở ngại.
Ý nói: Dù trong bất cứ cảnh ngộ nào, bất cứ ở đâu, phải luôn luôn ghi nhớ là cầu khẩn Ðức Chí Tôn cứu giúp.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
Còn khi nói bà con dòng dõi 9 đời là nói Cửu Tộc.
Cách gọi tên các bậc trong Cửu Huyền thì lấy Bản thân làm gốc mà đặt ra:
Từ Bản thân kể lên 4 đời và kể xuống 4 đời, gộp chung lại là 9 đời, kể ra như sau:
| Cao Tổ | Ông Sơ |
| Tằng Tổ | Ông Cố |
| Tổ phụ | Ông Nội |
| Phụ thân | Cha |
| Bản thân | |
| Trưởng tử | Con trai lớn |
| Ðích tôn | Cháu nội |
| Tằng tôn | Cháu cố (Chắt) |
| Huyền tôn | Cháu sơ (Chích) |
Gọi như vậy thì thờ Cửu Huyền, cúng lạy Cửu Huyền là cúng lạy cả con cháu của Bản thân mình hay sao?
Ðiều nầy có thể được giải thích bằng nhiều lẽ sau đây:
Có Bản thân, có Tổ phụ, có tử tôn; lên 4 đời, xuống 4 đời; trong đó có người đã chết, người đang sống, và người chưa sanh ra, tức là có đủ lẽ Âm Dương.
Có thể có những vị Tổ đầu thai trở lại làm con cháu mình để thực hiện Nhân Quả, và chính Bản thân mình cũng có thể là một vị Tổ đời trước đầu kiếp trở lại.
Mình đứng giữa, vay lớp trên 4 đời, trả cho lớp dưới 4 đời.
Công đức hay tội lỗi do Bản thân mình gây ra trong kiếp sống hiện tại có ảnh hưởng đến Tổ tiên 4 đời trước và con cháu 4 đời sau.
Công đức do mình làm ra thì cả Cửu Huyền đều thọ hưởng, tức là 4 đời Tổ có hưởng và con cháu 4 đời sau có hưởng.
Còn tội lỗi do mình gây ra thì 4 đời Tổ trước mình phải chịu khổ tâm nơi cõi Thiêng liêng, và con cháu 4 đời sau mình phải lo đền trả nếu Bản thân mình chưa trả hết.
Thờ cúng Cửu Huyền Thất Tổ là kỉnh trọng các bậc tiền nhân, Tổ tiên chúng ta, trong buổi sanh tiền, đã giáo hóa cử chỉ hành động, công ăn việc làm, sao cho tốt đẹp, hợp đạo lý để phát huy sự nghiệp của Tổ tiên, làm rạng rỡ Tổ tiên.
| C | 1. Ông Sơ của Ông Sơ | Thỉ Tổ | Thất tổ | T |
| Ử | 2. Ông Cố của Ông Sơ | Cao Cao Tổ | Lục tổ | H |
| U | 3. Ông Nội của Ông Sơ | Viễn Tổ | Ngũ tổ | Ấ |
| - | 4. Cha của Ông Sơ | Tiên Tổ | Tứ tổ | T |
| H | 5. Ông Sơ | Cao Tổ | Tam tổ | - |
| U | 6. Ông Cố | Tằng Tổ | Nhị Tổ | T |
| Y | 7. Ông Nội | Nội Tổ | Nhứt Tổ | Ổ |
| Ề | 8. Cha | Phụ thân | ||
| N | 9. Bản thân |
Trong Hệ thống Cửu Huyền, Bản thân mình là cháu 9 đời, suy lên Ông Tổ 9 đời là Ông Sơ của Ông Sơ.
Còn Thất Tổ, Cha của mình chưa được liệt vào Thất Tổ, Ông Nội của mình là Nội Tổ mới bắt đầu được liệt vào Thất Tổ.
Cho nên, Thất Tổ bao gồm từ Ông Nội (Nội Tổ) lên đến Ông Sơ của Ông Sơ.
Thất Tổ hợp với Cha mình và Bản thân mình, gồm 9 đời, tạo thành Hệ Thống Cửu Huyền.
GIẢI NGHĨA:
Tha quả vong căn là tha thứ và quên đi cái căn quả xấu nơi kiếp trước.
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA:
GIẢI NGHĨA: