Trong phần chú thích các từ ngữ khó trong Kinh Sám Hối, soạn giả có đối chiếu bản Kinh Sám Hối in trong Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo do Hội Thánh ấn hành, với bản Kinh Nhơn Quả, in trong quyển Kinh Cúng Tứ Thời cũng do Hội Thánh ấn hành vào năm 1928, và bản Kinh Sám Hối của Minh Lý Ðạo in năm 1973, để điều chỉnh cho đúng chánh tả một vài từ ngữ cho hợp với nghĩa lý của câu Kinh, và soạn giả có ghi trong phần KHẢO DỊ.
SÁM HỐI: Sám là ăn năn những lỗi lầm đã qua và thật lòng muốn sửa đổi, quyết không tái phạm; Hối là tự giận mình đã làm điều sái quấy.
Sám hối là ăn năn và tự giận mình về những lỗi lầm do mình gây ra, tự nguyện sửa đổi, quyết không tái phạm.
Sách Nho định nghĩa Sám Hối là:
Sám giả sám kỳ tiền khiên, Hối giả hối kỳ hậu quá.
Nghĩa là:
Sám là ăn năn lỗi trước, Hối là chừa bỏ lỗi sau.
Hội Thánh có dặn rằng: 'Kinh Sám Hối nầy nên tụng ngày Sóc Vọng, còn ngày thường lỡ có lầm lỗi điều chi, phải tụng mà xin tội.'
Danh lợi: Danh là tiếng tăm, lợi là lợi lộc. Danh lợi là tiếng tăm và lợi lộc.
Ðó là 2 thứ mà người đời rất ham thích, muốn đoạt lấy về cho mình càng nhiều càng tốt.
Cuộc danh lợi: Việc danh và lợi trong cuộc sống.
Hóa công: Hóa là tạo hóa, Công là người thợ.
Hoá công là ông Thợ Tạo Hóa, tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật. Ðó là Ông Trời, là Ðấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.
So thiệt tính hơn: So sánh hơn kém, tính toán lợi hại.
Sang cả: Sang là cao quí, cả là lớn, nhiều. Sang cả là sang trọng lắm, vẻ vang lắm.
Duyên trước: Chữ Hán là Tiền duyên, duyên là mối dây ràng buộc được định sẵn từ trước.
Duyên trước là mối dây được dịnh sẵn từ kiếp trước.
Nếu kiếp trước mình làm điều lương thiện đạo đức thì tạo được Duyên lành, khiến cho đời sống hiện tại được giàu sang vinh hiển hạnh phúc.
Không phần: Chữ Hán là Vô phần, Phần là cái số phận mà Trời định sẵn cho mình. Vô phần hay Không phần là số phận bạc bẽo, vất vả, đau đớn ê chề.
Nói là Trời định, chớ thật ra cái Nghiệp của mình định cho mình.
Trời lập ra Luật Nhơn Quả, và cầm Cây Cân Công Bình thiêng liêng giữ cho sự báo ứng được đúng phép công bình.
Luống: Nhiều lần.
Luống ước: Mong ước nhiều lần.
Cầu may: Mong cầu được may mắn.
Hai câu 7-8: Sự giàu sang không bền bỉ, nó chẳng khác gì một đám mây trên bầu Trời, khi tan khi tụ rất mau chóng, không chừng mực.
Muốn cho sự giàu sang được bền bĩ thì phải biết dùng tiền bạc bố thí, giúp đỡ người hoạn nạn nghèo khổ và làm những việc công đức khác như làm cầu, sửa đường, cất trường học, xây chùa, thì sẽ tạo được phước lành, hưởng được quả lành về sau.
Vận thới: Vận là thời vận, thới hay thái là hanh thông thịnh vượng.
Vận thới là thời vận hanh thông, thịnh vượng.
Suy vi: Suy là kém sút dần, vi là thấp hèn. Suy vi là sa sút đến độ nghèo nàn, thấp hèn.
Bày lễ khẩn cầu: Ðem lễ vật bày ra cúng để cầu khẩn Thần linh.
Ở phải: Ăn ở đúng theo lẽ phải, đạo đức.
Thần minh: Vị Thần sáng suốt.
Chánh trực: Ngay thẳng.
Tư vì: Tư vị, thiên lệch.
Lăng loàn: Có hành vi hỗn xược, không tùng phép tắc.
Câu 21-22:Người làm phước có khi mắc nạn là vì việc làm phước trong kiếp hiện tại chưa đủ để đền trả những oan nghiệt đã gây ra trong kiếp trước.
Không phải vì làm phước mà mắc nạn. Nếu người đó không làm phước thì tai nạn còn dồn dập tới nhiều hơn nữa, nhờ làm phước như vậy nên tai nạn mới giảm bớt và còn như thế đó.
Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang, là vì cái phước đức của nó ở kiếp trước còn, chừng nào phước đức ấy hết thì nó sẽ suy sụp thê thảm.
Ðừng nghĩ rằng vì nó lăng loàn mà được giàu sang. Luật Nhơn quả không bao giờ sai chạy.
Bủa giăng: Bủa là phân rộng ra các phía, giăng là kéo ra theo bề dài. Bủa giăng là bao phủ khắp nơi.
Câu 33: Trên đầu của mỗi người lúc nào cũng có chư Thần Thánh hiện diện đầy đủ khắp nơi để xem xét.
Phước duyên: Phước là điều may mắn tốt lành, Duyên là cái sức bổ trợ cho cái Nhân thành cái Quả.
Phước duyên là điều may mắn tốt lành do việc làm lành báo đáp lại.
Nham hiểm: Ðộc ác một cách kín đáo, khó phát hiện ra được.
Câu 36: Ðối với người nham hiểm sâu độc thì chư Thần Thánh sẽ thâu lợi lộc và quyền hành cho giảm bớt lại.
Gổ ganh: Gây gổ vì ganh tỵ.
Oán chạ thù vơ: Thù oán bậy bạ, không có lý do chánh đáng.
Trái oan: Trái là món nợ, oan là thù giận. Trái oan là món nợ về thù giận.
Mình vô cớ làm thiệt hại người thì người ta thù giận mình, mình mắc một món nợ oan nghiệt.
Hai câu 39-40: Oán thù nên gỡ, không nên kết, vì nó như sợi tơ, càng kết càng rối, càng gây thêm đau khổ và phiền não, rồi cứ oan oan tương báo, biết chừng nào mới dứt được.
Trung trực: Trung là trung thành, trực là ngay thẳng. Trung trực là trung thành và ngay thẳng.
Nợ nước: Nghĩa vụ đối với quốc gia.
Hưởng lộc vua: Vua là biểu tượng của một nước. Hưởng lộc vua là hưởng lộc nước, tức là thọ hưởng quyền tước và lương bổng của quốc gia.
Tìm chước: Tìm ra kế hoạch.
An bang: An là yên ổn, bang là nước. An bang là làm cho nước được yên ổn thái bình.
Con giặc: Người dân làm giặc, chống lại nhà nước.
Tôi loàn: Làm quan mà dấy loạn, phản lại nhà nước.
Thuế sưu: Thuế là tiền phải đóng góp cho nhà nước để dùng vào công ích. Sưu là phần đóng góp bằng sức lực vào các công trình ích nước lợi dân, như đắp đê, làm đường, bắc cầu, làm thủy lợi,...
Biếng nhác: Nhác là làm biếng. Biếng nhác là lười biếng.
Phú thác: Phú là giao cho, thác là gởi gấm. Phú thác là giao cho và gởi gấm với lòng tin cậy.
Giả bộ: Làm ra bộ tịch như vậy, chớ không thực lòng.
Gian trá: Gian xảo và tráo trở.
So đo tấc lòng: Lòng dạ hẹp hòi, so sánh đo lường hơn thiệt từng ly từng tí.
Loài ong tay áo: Do thành ngữ: Nuôi ong tay áo, nghĩa là: Hễ nuôi con ong trong tay áo thì thế nào cũng bị ong chích.
Ý nói: Kẻ phản bội, ăn cơm chủ trở lại hại chủ.
Khỉ dạo dòm nhà: Do thành ngữ: Nuôi khỉ dòm nhà.
Loài khỉ có tánh hay bắt chước một cách vô ý thức, thấy chủ nhà nhúm lửa nấu cơm, khi vắng chủ nhà, nó bắt chước xuống bếp nhúm lửa, làm lửa cháy lên, lan qua thành cháy nhà.
Khỉ dạo là chỉ chung loài khỉ vượn. Khỉ dạo dòm nhà là có ý nói: Cái tánh hay bắt chước vô ý thức rất tai hại.
Minh chánh: Trong sáng và ngay thẳng.
Lời ra phải nhìn:Ý nói: Phải giữ lời hứa, phải nhìn nhận lời nói của mình, không được nuốt lời.
Quyệt ngữ: Quyệt là xảo trá, ngữ là lời nói. Quyệt ngữ là lời nói xảo trá, gian dối.
Gian mưu: Mưu kế gian xảo.
Hãm hại: Làm hại người bằng thủ đoạn ám muội.
Người hiền: Người có tài đức hơn người.
Bằng hữu: Bằng là bạn, hữu là bạn, Bằng hữu là bè bạn.
Kết nguyền: Kết chặt mối dây thân ái bằng lời thề.
Kiêng: Nể sợ.
Vì: Nể nang.
Khó: Nghèo khổ.
Mà khi mà thị: Khi thị là lừa dối, khinh thường.
Vị: Nể nang.
Nâng: Tâng bốc, nịnh hót.
Hai câu 93-94: Nói về thói đời ham chuộng bạc tiền vật chất: Hễ thấy ai nghèo khổ thì khinh rẻ, thấy ai giàu có thì theo nịnh bợ. Ðừng làm như thế, bởi vì giá trị con người không phải do tiền bạc hay nghèo giàu, mà là do phẩm chất đạo đức và tài năng chơn thực.
Gian truân: Gian là khó khăn vất vả, truân là cực khổ. Gian truân là vất vả cực khổ.
Mặt ngơ: Ngó lơ làm như không hay biết, vì sợ hao tốn tiền bạc hay công sức giúp đỡ.
Câu 97-104: Làm người phải kỉnh thờ Thần Thánh,...
GIẢI NGHĨA:
Lời nguyền: Lời thề.
Tưởng tin: Tin tưởng.
Niệm Phật: Miệng thì đọc nho nhỏ vừa đủ nghe danh hiệu của chư Phật, còn tâm thì tưởng nghĩ tới chư Phật.
Khá in như nguyền: Phải làm cho đúng y như lời thề.
Ðảo điên: Thay đổi lung tung, tráo trở bất thường.
Câu 103: Dối người nào khác dối Trời.
Sách Nho có câu:
Khi nhơn tức khi tâm.
Nghĩa là:
Lừa dối người tức là lừa dối cái Tâm của mình.
Mà Tâm là điểm Linh quang do Trời ban cho mỗi người, nên lừa dối người tức là lừa dối Trời. Mà lừa dối Trời có đặng chăng?
Ngỗ ngang: Ngỗ là ngạo ngược, ngang là bướng bỉnh. Ngỗ ngang đồng nghĩa với Ngỗ nghịch, nghĩa là bướng bỉnh, bất chấp lời khuyên dạy của bề trên.
KHẢO DỊ:
Kinh Nhơn Quả 1928, Kinh Lễ, Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1936, 1968, 1974, 1975: ra đời ngỗ ngang.
Kinh Sám Hối. Minh Lý 1973: há đời ngỗ ngang.
Câu 105-112: Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,...
GIẢI NGHĨA:
Trong hang vắng tiếng: Ý nói nơi kín đáo vắng vẻ, không ai dòm ngó.
Dể duôi: Khi dể, xem thường.
Sanh biến: Gây ra điều bất thường không tốt đẹp.
Lăng loàn: Hỗn xược, không tùng theo khuôn phép.
Tánh linh hơn vật: Con người có tánh linh hơn vạn vật là vì con người có đủ Tam hồn: Sanh hồn, Giác hồn, Linh hồn.
Thảo mộc chỉ có Sanh hồn
Tiến lên Thú cầm thì có thêm một phần hồn nữa là Giác hồn
Thú cầm tiến hóa lên phẩm Nhơn loại thì có thêm một phần hồn nữa là Linh hồn
Linh hồn là điểm Linh quang của Ðức Chí Tôn ban cho, nhờ đó con người linh hơn vạn vật và có thể tu hành thành Tiên, Phật.
Lễ nghi: Lễ là cách bày tỏ ra ngoài lòng kính trọng, Nghi là hình thức tốt đẹp để tượng trưng cái Lễ.
Lễ nghi là cách sắp đặt bên ngoài để bày tỏ lòng kính trọng.
Kỉnh vì trên trước: Kính trọng, nể nang người có địa vị cao hay tuổi tác lớn hơn mình.
Buông lời: Nói ra mà không suy nghĩ cẩn thận.
Bà con chòm xóm: Những người quen thân ở gần gũi trong xóm của mình.
Câu 113-120: Thấy già yếu hẹp đường nhượng tránh,...
GIẢI NGHĨA:
Buông tánh: Buông là thả lỏng ra, không kềm giữ chặt chẽ.
Buông tánh là để cho cái Tánh buông lung, không kềm giữ nó chặt chẽ thì dễ sanh ra điều sái quấy.
Cợt: Trêu ghẹo.
Xích mích: Va chạm lặt vặt sanh ra phiền lòng.
Ðâu nguôi dạ hờn: Không làm giảm bớt lòng hờn giận.
Tế tự: Tế là dâng phẩm vật lên cúng với thể thức long trọng, Tự là thờ cúng.
Tế tự là chỉ chung việc tế lễ và thờ cúng.
Chớ lờn chớ dể: Không được vô lễ, không được khinh thường.
Quan hôn: Quan là cái mũ. Lễ Gia Quan là lễ đội mũ cho con trai khi đến tuổi trưởng thành, đúng 20 tuổi.
Lễ nầy được thực hiện trong các gia đình Nho giáo thuở xưa, nay đã bãi bỏ. Hôn là việc cưới vợ gả chồng.
Quan hôn là chỉ chung việc Quan Hôn Tang Tế.
Thủ lễ: Giữ gìn phép tắc cư xử.
KHẢO DỊ:
Kinh Sám Hối. Minh Lý 1973, Kinh Nhơn Quả 1928, Kinh Lễ, Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1936: Sanh điều chích mích.
Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1968, 1974, 1975: Sanh điều xích mích.
Ơn Trên: chỉ Ðức Chí Tôn hoặc các Ðấng Thiêng Liêng.
Phước ấm no: Ðiều may mắn tốt lành là được no ấm.
Túc thực túc y: Túc là đủ, Thực là ăn, Y là áo mặc. Túc thực túc y là đủ ăn đủ mặc, ý nói đời sống được no ấm.
Tai nguy: Tai nạn nguy hiểm.
Tế độ: Tế là giúp đỡ, đem tiền bạc vật thực đến cho; Ðộ là cứu giúp. Tế độ là cứu giúp, đem tiền bạc vật thực đến giúp đỡ.
Thí bạc: Bố thí tiền bạc giúp đỡ người nghèo.
Miểng bát miểng chai: Mảnh vở của chén dĩa hay ly tách, cạnh của nó rất bén, đạp nhằm thì bị đứt chân chảy máu.
Ðoái hoài: Ðoái là nghĩ tới, hoài là tưởng nhớ tới. Ðoái hoài là tưởng nhớ mà quan tâm đến.
Ba câu 126-127-128: Miểng chén, miểng chai, đinh nhọn, chông gai nằm trên đường đi, mình đi trước nhìn thấy thì mau mau lượm lấy, đem bỏ vào một chỗ ít người lui tới, để tránh cho người đi sau khỏi đạp nhằm các thứ bén nhọn đó mà bị đứt chân đau đớn. Ấy là làm phước mà chẳng tốn tiền.
Câu 145: Ở giữa cõi trần đầy bụi bặm, làm sao giữ mình cho khỏi dính bụi trần. Cư trần tất nhiễm trần. Ý nói: Ðã mang xác phàm sống nơi cõi trần thì tránh sao khỏi lầm lỗi. Vấy là dính chất bẩn.
Xử xong: Cư xử cho vẹn toàn.
Long đong: Lưu lạc vất vả, cuộc sống không ổn định.
Chẳng sờn: Chẳng nao núng, ý chí chẳng lung lay.
Thọ ơn chẳng bội: Nhận lãnh ơn huệ của ai thì chẳng nên phản bội người đó, mà phải lo báo đáp.
Chánh tà: Chánh là ngay thẳng đúng đắn, Tà là cong quẹo sai trái.
Chánh Tà luôn luôn đối chọi nhau, tranh giành ảnh hưởng lên nhau, nhưng cuối cùng thì Chánh luôn luôn thắng Tà.
Nhờ có Tà mà cái Chánh mới lộ rõ ra, và cũng nhờ cái Tà mà trau giồi cái Chánh. Chánh là theo Tiên Phật, Tà là theo Quỉ Vương.
Ðiều phải NGHĨA: Ðiều đúng theo lẽ phải và đạo đức.
Tranh đua bay nhảy: Tranh đấu, hết làm việc nọ tới việc kia để mưu cầu danh lợi, không chịu ngồi yên.
Nhắm mắt rồi: Lúc chết rồi.
Phủi thảy: Gạt bỏ tất cả.
Của không phải NGHĨA: Tiền của phi nghĩa.
Quân tử: Mẫu người lý tưởng của Nho giáo nêu ra để mọi người học tập noi theo.
Người quân tử là người có tài năng và phẩm hạnh hơn người.
Người quân tử lúc nào cũng ung dung thơ thới, ưa làm điều hay việc phải, sẵn sàng giúp ích mọi người, thuận tùng Thiên lý, thường đem Ðạo lý khuyên đời cải ác tùng lương, tấm lòng không bao giờ phóng túng bôn chôn theo vật dục để phải bước vào nẻo quấy.
Dù gặp bất kỳ cảnh ngộ khó khăn nào, người quân tử cũng tỏ ra bình thản, giữ vững tư cách cao thượng, không để Thất tình loạn động, Lục dục khiến sai, làm điều sái quấy.
Nhục tổ hổ tông: Nhục tổ là làm nhơ nhuốc tổ tiên, hổ tông là làm xấu hổ dòng họ mình.
Hai câu 171-172: Hễ nghe nhà nào có nhiều tiền bạc, thì bày vẽ mưu kế ác độc, sửa điều ngay thẳng thành việc sái quấy, để người ta lo sợ mà đem tiền bạc lo lót cho mình. Họ không nể sợ Thần Thánh một chút nào hết.
Lễ nhiều: Ðem tiền bạc hay đồ quí giá dâng cho kẻ quyền thế để cầu xin quyền lợi mà đúng ra pháp luật không cho phép hưởng.
Cậy thế ỷ quyền: Cậy vào thế lực của phe đảng mình, lạm dụng quyền hành mình làm điều bất chánh.
Câu 174: Kẻ đem nhiều lễ vật quí giá lo lót cho cấp trên để cậy thế lực của cấp trên che chở, rồi lạm dụng quyền hành của mình làm điều phi pháp, thâu tóm lợi riêng.
Tính kế đảo điên: Tính toán mưu kế lung tung, tráo trở bất thường, để thâu tóm lợi lộc về mình.
Gia sản: Tài sản của một gia đình.
Gạt thâu gia sản: Lường gạt người để chiếm đoạt gia sản của người.
Tôi tớ: Người giúp việc trong nhà để chủ nhà sai phái công việc.
Thôn lân: Thôn là một ấp, lân là một xóm. Thôn lân là thôn xóm trong làng.
Húng hiếp: Húng là hống hách, hiếp là bắt ép. Húng hiếp là hống hách hiếp đáp người.
Câu 178: Áp bức con gái nhà lành, ép buộc đòi hỏi phải làm hầu thiếp cho mình, tức là buộc làm vợ bé cho mình.
Ðáo đầu: Ðáo là tới, đầu là chỗ cuối cùng. Ðáo đầu là đến lúc cuối cùng.
Xướng kỵ: Xướng là ca hát, kỵ tức là kỹ nữ, gái buôn hương bán phấn. Gái xướng kỵ là con gái làm ả đào, ca hát cho khách nghe, lại bán thân cho khách.
Du đãng: Du là trôi nổi lông bông, đãng là rong chơi lêu lỏng.
Trai du đãng là những đứa con trai rong chơi phóng túng, thường tụ tập để phá phách, nhậu nhẹt, gây gổ đánh lộn.
Suy vi: Sút kém dần đến độ nghèo hèn.
Tham thì phải thâm: Tham lấy món tiền nhỏ, mà bị lạm vào một món tiền khác lớn hơn. Thành ngữ nầy có ý chê cười và răn đe những người có tánh tham lam.
Lam lụ: hay Lam lũ, nghĩa là: Cố chịu đựng vất vả nghèo khổ để làm việc.
Biếng nhác: Lười biếng.
Kiêu căng: Tự đắc cho mình là hơn người nên tỏ ra khinh người.
Không ngằn: Không tới mức cần thiết.
Háo sanh: Ưa thích sự sống.
Háo sanh là bản chất của Thượng Ðế.
'Chi chi hữu sanh cũng bởi Chơn linh Thầy mà ra, hễ có sự sống ắt có Thầy. Thầy là Cha của sự sống. Vì vậy là lòng háo sanh của Thầy không cùng tận.' (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. II. 62)
Một màu: Ý nói giống hệt nhau.
Thượng cầm hạ thú: Ở trên thì có loài chim, ở dưới có loài thú vật.
Lao xao: Rộn lên xen lẫn vào nhau.
KHẢO DỊ:
Kinh Sám Hối. Minh Lý 1973, Kinh Nhơn Quả 1928: Khá tiết kiệm.
Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1936, 1968, 1974, 1975, Kinh Lễ: Thà tiết kiệm.
Câu 212: Nó không làm hại chi đến mình, mà mình giết chết nó thì trái hẳn với đức Háo sanh của Thượng Ðế, nên mình phải bị tội tình, thiệt thòi rất oan uổng.
Kiếm thế: Tìm cách nầy cách nọ.
Ngoan: Khôn ngoan.
Câu 213: Chớ tìm cách xảo trá mà làm để gọi là khôn ngoan.
Lưới rập chim: Cái lưới giăng ra, bỏ mồi cho chim vào ăn rồi giựt lưới cho sập xuống, chim mắc vào lưới đặng bắt. Rập là làm bẫy để bắt.
Thuốc cá: Bỏ thuốc độc vào nước để cá nhảy ra ngoài mà bắt.
Ðốt rừng: Ðốt cháy rừng cho các loài thú chạy ra mà bắt.
Phá noãn: Phá tổ chim để lấy trứng.
Tội căn báo ứng: Tội lỗi gây ra là cái gốc rễ cho việc báo ứng sau nầy, tức là sẽ có tai họa báo đáp lại.
Hung hoang: Hung là dữ tợn, hoang là không được kềm chế. Hung hoang là hung dữ không ai kềm chế nổi.
Ác nghiệt: Ðộc ác và khắc nghiệt.
Hai câu 219-220: Kết bè thành nhóm năm bảy đứa du đãng rong chơi đàng điếm, hiếp đáp người lương thiện, phá hại dân chúng, làm mất an ninh trật tự trong vùng.
Tua: Nên, hãy.
Tua khá: Hãy nên.
Câu 221: Hãy nên tưởng nghĩ đến mà thương mến nòi giống dân tộc mình.
Câu 222: Hãy suy xét để biết rằng mạng sống con người rất quí báu, một khi mạng sống mất thì không thể cầu xin lấy lại được.
Bài bạc lận nhau: Ðánh bài đánh bạc, ăn gian ăn lận nhau. Thường nói: Cờ gian bạc lận.
Lấy xâu: Tổ chức và chứa đám đánh bài để lấy tiền chỗ, gọi là lấy tiền xâu.
Câu 233: Ðừng cố tâm oán thù người mà âm thầm tìm cách gây ra tai họa cho người.
Rấp đường: Rào bít đường không cho người qua lại.
Tháo cống: Tháo cái cống để cho nước tràn ra ngoài.
Phá mương: Phá cái mương để nước chảy ra ngoài.
Tan hoang: Tan nát hoang tàn, không còn gì.
Liều mạng: Dù biết việc nầy nguy hiểm đến tánh mạng nhưng cũng cố làm để thỏa lòng thù hận.
Ðổ tội: Ðem tội lỗi của mình trút lên đầu người khác.
Người hiền: Người hiền lành, người vô tội.
Vương mang: Vướng mắc vào.
Ngạ quỉ: Quỉ đói. Người sống trên cõi trần có tánh độc ác, bỏn xẻn, gian xảo, khi chết, Chơn hồn bị phạt làm Ngạ quỉ, thân hình xấu xí đầy lông lá, cái bụng lớn như cái trống mà cái miệng thì nhỏ như lỗ kim, ăn không được, chịu đói khát vô cùng.
Của thập phương: Tiền bạc của bổn đạo khắp nơi (mười phương) dâng cúng cho chùa.
Châu cấp: Giúp cho đầy đủ để bảo đảm cuộc sống.
Thê nhi: Vợ con. Thê là vợ, nhi là con.
Ðọa lạc: Ðọa là phạt xuống cõi thấp kém khổ sở, lạc là rơi rụng. Ðọa lạc là phạt rơi xuống cõi thấp kém khổ sở.
Âm Ty: Ty là cơ quan làm việc. Âm Ty là cơ quan làm việc nơi cõi Âm phủ, chỉ cõi Âm phủ.
Hai câu 269-270: Người xưa quan niệm rằng chữ viết trên giấy là chữ của Thánh Hiền, không được chà đạp hay để rơi rớt vào chỗ dơ dáy. Cần phải lượm gom lại rồi đốt ra tro, đổ tro ấy xuống sông, như vậy mới đặng phước.
Thủy triều: Hiện tượng nước sông hay nước biển lên xuống hai lần trong 1 ngày đêm.
Thủy triều có được là do sức hút của mặt trăng và mặt Trời lên nước biển.
Phước đồng ăn chay: Làm được việc ấy thì có phước đức bằng với việc ăn chay.
Vua Thần Nông (2737-2697 trước Tây lịch), con của Thiếu Ðiền và Bà An Ðăng.
Bà nằm mộng thấy rồng đoanh rồi sanh ra Ngài tại thạch thất trong núi Liệt sơn.
Vua Thần Nông có khổ người to lớn, được tôn lên làm vua, lấy Hỏa đức cai trị dân chúng, được thiên hạ phục tùng, long chầu hổ bái.
Vua Thần Nông thấy dân giết hại thú vật để ăn thịt quá nhiều, lòng chẳng nỡ, liền tìm kiếm các giống ngũ cốc, dạy dân cày cấy gieo trồng để dùng làm lương thực.
Vua Thần Nông thấy dân bịnh hoạn, nên ra công tìm kiếm các thảo mộc có vị thuốc trị bịnh cho dân.
Cho nên, vua Thần Nông là tổ sư của nghề nông và cũng là tổ sư của nghề chế tạo thuốc trị bịnh.
Ngài băng tại Trường Sa, thọ 140 tuổi, làm vua 40 năm.
Vọng niệm: Vọng là trông mong, niệm là tưởng nghĩ tới. Vọng niệm là trông mong và tưởng nghĩ tới.
Vong: Quên.
Mới phòng khỏi hoang: Mới đề phòng khỏi bị lãng phí.
Dạ lang: Lòng dạ hiểm độc như lang sói. Dạ là lòng dạ, lang là con chó sói.
Lần lựa: Kéo dài thời gian để chờ lúc thuận tiện.
Thất mùa: Mất mùa lúa vì bị thiên tai.
Bế vựa gắt gao: Ðóng cửa vựa lúa một cách khắt khe nghiêm nhặt để tích trữ và đầu cơ lúa gạo.
Bốn câu từ 281 đến 284: Nói về người đầu cơ tích trữ lúa gạo. Ðó là người có lòng dạ hiểm độc như lang sói, lần lừa chờ đợi cơ hội, nhân khi dân bị mất mùa, thì đi mua gom lúa gạo giấu vào kho thật kỹ, chờ khi lúa phát giá cao, mở kho bán mắc, thu lãi thật nhiều, ai chết mặc ai, tiền thầy bỏ túi. Người độc ác như vậy, Trời nào dung cho!
Ðền báo: Ðền đáp trở lại.
Nghĩa đạo: Ðạo nghĩa, đường lối cư xử hợp đạo đức và lẽ phải.
Hai câu 313-314: Kẻ lỗ mãng, không tin có linh hồn, chê bai khinh rẻ tôn giáo, cho rằng con người chết rồi là hết, không còn gì tồn tại để nói nữa.
Ðấng Thượng Ðế dùng hiện tượng Cơ Bút mở Ðạo Cao Ðài kỳ nầy là để chứng minh cho nhơn loại thấy rằng:
Có sự hiện hữu của Thượng Ðế, Ðấng sáng tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.
Con người có linh hồn. Linh hồn đích thực là chủ nhân của thể xác. Thể xác chết nhưng linh hồn vẫn tồn tại, xuất ra khỏi thể xác, đi lên cõi thiêng liêng.
Có thế giới vô hình, đó là cõi sống của linh hồn và của các Ðấng Thần Thánh Tiên Phật.
Nhãn tiền: Ngay trước mắt.
Trả quả: Ðền trả cái kết quả báo đáp lại do các việc làm ác độc thuở trước.
Phi lý: Không có lý.
Thi hài: Thể xác con người.
Thông tri: Biết rõ.
Câu 316: Ðã trả quả rồi mà chưa trừ hết tội, số tội còn dư lại đó thì con cháu phải đền trả đến hết mới thôi.
Dứt hơi hồn xuất: Thể xác chết thì linh hồn xuất ra.
Quỉ Vô thường: Loài quỉ luôn luôn biến đổi hình dạng, có nhiệm vụ dẫn linh hồn người chết xuống cõi Ðịa ngục cho Diêm Vương tra xét công và tội để xử đoán.
Chẳng ly mảy hào: Chẳng lìa ra một chút thật nhỏ, ý nói chẳng sơ sót một chút nào.
Công quả: Những việc làm thiện, giúp người giúp đời, giúp đạo, sẽ hưởng được kết quả tốt đẹp về sau.
Tan xác: Tan là tan nát, xác là xác thân. Tan xác là xác thân tan nát.
Hành cho tan xác: Hành hình cho đến khi xác thân tan nát mới thôi. (Xem Chú thích Câu 348)
Huờn hình: Cho trở lại hình hài (xác thân Thiêng Liêng) như xưa.
KHẢO DỊ:
Kinh Sám Hối. Minh Lý 1973: Hành cho tán giác.
Kinh Nhơn Quả 1928, Kinh Lễ, Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1936: Hành cho tan giác.
Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1968, 1974, 1975: Hành cho tan xác.
Tán giác:| đồng nghĩa
Tan giác:| Tán hay Tan là tiêu tan, giác là sự hiểu biết...
Nhà có con gái đẹp mà nghèo thường bị những bà chuyên làm mai mối đến gạ gẫm, nói lời giả dối ngon ngọt, dụ dỗ gả bán cho nhà giàu làm hầu thiếp, để họ được hưởng tiền môi giới.
Rù quến: Dụ dỗ quyến rũ.
Gái non: Con gái mới lớn lên chưa đủ khôn ngoan kinh nghiệm.
Làm hư hoại tiết: Làm cho hư hỏng cái khí tiết của con người hay cái tiết trinh của con gái. Hoại là hư hỏng.
Lòng lang độc: Lòng độc ác như lang sói. Lang là chó sói, thường nói là Lang sói.
Diêm đình: Triều đình của Diêm Vương ở cõi Âm phủ.
Phạt quở trừng răn: Quở phạt, trừng trị và răn cấm.
Hành: Trừng phạt làm cho đau đớn khổ sở.
Ðáng kiếp: Xứng đáng với cái tội đã làm trong kiếp sống nơi cõi trần, không có gì là oan ức hay quá đáng cả.
Tội căn: Tội lỗi đã gây ra trong kiếp sống trước. Căn là gốc rễ, chỉ những việc làm trong kiếp sống trước.
Gian dâm: Quan hệ thể xác một cách bất chánh với người không phải là vợ mình hay chồng mình.
Tư bề: 4 bên.
Câu 348: Người tội lỗi chết đã bỏ xác phàm nơi cõi trần rồi, chỉ có Chơn thần và linh hồn bị giam vào Ðịa ngục, sao lại có chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn? Giống như còn xác phàm nơi cõi trần?
Ðây là phép huyền diệu ở Ðịa ngục, làm cho Chơn thần tội nhơn tưởng như có thân thể, ruột gan tim phổi, miệng lưỡi y như nơi cõi trần, biết đói khát, biết đau đớn vì bị đâm chém máu chảy.
Sau khi bị hành hình cho đến chết rồi, thì nhờ thứ nước huyền diệu nơi Ðịa ngục, rưới lên chơn thần thì chơn thần sống trở lại y như lúc trước.
Thanh lâu: Lầu xanh, nơi chứa gái mãi dâm.
Phép mầu Chí Linh: Phép thuật mầu nhiệm của Thượng Ðế.
KHẢO DỊ:
Kinh Sám Hối. Minh Lý 1973: chực hầu.
Kinh Nhơn Quả 1928, Kinh Lễ, Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1936, 1968, 1974, 1975: chực chầu.
Ðệ huynh bất mục: Anh em không hòa thuận nhau. Ðệ là em, huynh là anh, bất là không, mục là hòa thuận.
Ðồng bào: Cùng một bào thai, ý nói anh em ruột cùng một cha mẹ sanh ra.
Nghĩa rộng: Ðồng bào là chỉ dân tộc VN, do sự tích về nguồn gốc của dân tộc VN do Bà Âu Cơ lấy Lạc Long Quân, sanh ra một bào thai trong đó có 100 trứng, nở ra 100 người con.
Bà Âu Cơ là Tiên, dẫn 50 đứa con lên núi ở, còn Lac Long Quân là Rồng dẫn 50 đứa con đi về phía biển Nam Hải.
Số 50 người con đi về biển Nam Hải là thủy tổ của dân tộc VN, nên dân VN mới gọi nhau là đồng bào, và xưng mình là dòng giống Tiên Rồng.
Gộp núi: Mỏm núi nhô ra.
Táng đởm: Mất mật, chỉ sự sợ hãi dữ dội. Táng là mất, đởm hay đảm là mật. Thường nói: Táng đởm kinh hồn.
Tư bề rùm tai: Bốn phía ồn ào ầm ĩ làm khó chịu lỗ tai.
Ðưa vấu: Vấu là móng vuốt. Ðưa vấu là giương móng vuốt ra để chuẩn bị vồ mồi.
Tội nhân: Người có tội.
Quào quấu: Vừa quào vừa bấu vào.
Xé thây: Xé xác, xé thể xác ra nhiều mảnh.
Huyết phẩn: Máu và phân người.
Nhờm thay: Rất ghê tởm.
Vấy đầy: Dính đầy chất dơ bẩn.
Câu 384: Khi hụp xuống, đầu lút mặt nước thì thôi, hễ ngoi đầu lên đặng thở thì bị Quỉ sứ cầm cây gậy hờm sẵn đập vào đầu. Ðây là hình phạt rất khổ sở để trừng trị kẻ gian ác như 4 câu kế bên dưới.
Chứa xâu lường của: Lập sòng bài để người ta vào đánh bài đặng lấy tiền xâu; lừa gạt người để lấy tiền lấy của.
Ðồ dơ: Chỉ quần áo của phụ nữ lúc có kinh nguyệt bị dính dơ. Người xưa cho rằng, máu kinh nguyệt của phụ nữ là dơ bẩn nhứt.
Uế trược: Dơ bẩn hôi hám. Uế là hôi hám.
Bếp núc: Nơi đặt bếp để nấu ăn.
Lúc nhơ: Lúc người phụ nữ bị dơ mình vì kinh nguyệt.
Tam quang: Ba vật sáng trên bầu trời gồm: Nhựt, Nguyệt, Tinh (mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao).
Câu 390: Phơi áo quần chẳng nể Tam quang: Người phụ nữ lúc có kinh nguyệt, không nên đem áo quần phơi ở chỗ trống có ánh sáng của Nhựt, Nguyệt, Tinh rọi tới; mà phải phơi ở chỗ nào khuất ánh sáng; nếu không nể Tam quang thì phải mang tội.
KHẢO DỊ:
Kinh Sám Hối. Minh Lý 1973: Vào bếp núc lúc nhơ không kể.
Kinh Nhơn Quả 1928, Kinh Lễ, Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1936: Vào bếp núp chỗ nhơ không kể.
Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1968, 1974, 1975: Vào bếp núc chỗ nhơ không kể.
Trứng ruồi nở ra con giòi, sống lúc nhúc trong chỗ dơ bẩn hôi thúi.
Giòi tửa là chỉ chung trứng ruồi và giòi nhỏ giòi lớn.
Lẫy lừng: (Mùi hôi tanh) xông lên dữ dội.
Câu 395-396: Quen tánh hủy hoại cơm gạo, không quí trọng cơm gạo, loại lương thực căn bản nuôi sống con người, thì mắc tội, bị phạt ăn dơ dáy nơi cõi Âm phủ.
Mới ưng tội hình: Hình phạt nặng nề như thế mới xứng với tội lỗi đã gây ra.
Quá kinh: Quá sợ sệt. Kinh là sợ sệt.
Quỉ Dạ Xoa: Loài quỉ có hình dạng kỳ dị ở cõi Ðịa ngục, tánh rất ác, cầm các thứ khí giới để hành hình tội nhân.
Quỉ Dạ Xoa có răng nhọn như gươm, mắt sáng như điện nháng, móng tay như đồng, thường cầm kích đâm vào mắt, miệng hay bụng tội nhân nơi cõi Ðịa ngục.
Vì chưng: Vì bởi.
Kiêng: Nể sợ.
Chẳng chừa chẳng kiêng: Không chừa ra, cũng không nể sợ.
Tra tội nhơn: Tra tấn người có tội, đánh đập nặng nề để truy tìm sự thật.
Gian giảo: Gian dối xảo trá.
Bế địch trợ hoang: Bế là đóng lại, Ðịch là nhập cảng lúa gạo, Trợ là giúp, Hoang là mất mùa lúa vì bị Thiên tai.
Bế địch trợ hoang là làm bế tắc việc nhập cảng lúa gạo trợ giúp nạn mất mùa.
Dân chúng bị Thiên tai mất mùa, thiếu gạo ăn, cần phải nhập cảng lúa gạo để cứu giúp nạn mất mùa, mà có người cố ý làm cho việc nhập cảng ấy bị bế tắc, mục đích để đầu cơ tích trữ lúa gạo, bán ra thật mắc, thâu lợi thật nhiều.
Thừa năm hạn đói: Thừa là nhân cơ hội, hạn là nắng hoài không mưa làm lúa chết.
Thừa năm hạn đói là thừa cơ hội những năm có nạn hạn hán kéo dài, lúa chết hết, dân chúng đói khổ.
Mưu toan bức nghèo: Tính toán sắp đặt mưu kế để áp bức dân nghèo.
Hai câu 403-404: có ý nghĩa giống 4 câu số: 281-282-283-284. Cả 2 đoạn kinh trên đều nói về người đầu cơ tích trữ lúa gạo, có tánh tham lam hiểm độc, chờ lúc thất mùa, dân chúng đói khổ, giá lúa tăng cao, mở kho lúa gạo bán ra rất mắc, thâu lợi thật nhiều. Trời nào dung tha.
KHẢO DỊ:
Kinh Sám Hối. Minh Lý 1973, Kinh Lễ, Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1936: bế địch trợ hoang.
Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1968, 1974, 1975: bế dịch trợ hoang.
Thành Uổng Tử: Uổng tử là chết oan, chết mà chưa đúng số. Thành Uổng Tử là cái thành dùng làm nơi giam giữ các linh hồn của người chết oan do tự tử.
Cầm: Giam cầm.
Tự vận: Tự là chính mình, vận hay vẫn là đâm vào cổ mà chết. Tự vận hay Tự vẫn là tự tử, tự giết mình.
Ðọa đày hành mãi: Bị đày đọa và hành hình mãi mãi.
Câu 410: Ðúng số rồi còn phải luân hồi, nghĩa là: Người tự vận chết oan vì chưa đúng số chết, thí dụ như đúng số chết là 31 tuổi, mà mới 21 tuổi đã liều mình tự tử. Linh hồn bị bắt xuống Thành Uổng Tử, bị đày đọa và hành hình mãi trong suốt 10 năm vì tội ngỗ nghịch lăng loàn, cho tới năm đúng số 31 tuổi, thì mới được xét cho đi đầu thai.
KHẢO DỊ:
Kinh Sám Hối. Minh Lý 1973: Quá công.
Kinh Nhơn Quả 1928, Kinh Lễ, Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1936, 1968, 1974, 1975: Hóa công.
Quá công: Quá là tội lỗi, công là công đức.
Hóa công: Ông thợ tạo hóa, đó là Ðức Chí Tôn Thượng Ðế.
Câu 424: Bày ra thuốc độc để phá thai, làm mất đi sự sanh sản lưu truyền nòi giống.
Ðạo Cao Ðài quan niệm việc phá thai là một trọng tội, bởi vì nó phạm tội sát sanh, giết chết một mạng sống đang hình thành và nẩy nở trong bụng mẹ; nhưng không chống lại việc ngừa thai, bởi vì ngừa thai là ngăn ngừa sự thành hình một mạng sống, nên chưa phạm tội sát sanh.
Tội căn: Căn là gốc rễ, chỉ những việc làm trong kiếp trước. Tội căn là tội lỗi đã gây ra trong kiếp trước.
Kệ sám: Kệ là bài văn để ngâm, có nội dung giải thích một bài kinh, Sám là ăn năn những lầm lỗi đã qua và thật lòng muốn sửa đổi.
Lời kệ sám là chỉ bài Kinh Sám Hối.
Duy truyền: Duy là chỉ có, truyền là trao lại. Duy truyền là chỉ truyền lại với mục đích nhứt định.
Văn từ: Văn chương chữ nghĩa.
Luận biện: Biện luận, đưa ra lý lẽ bàn bạc đúng sai.
Buông tiếng: Nói ra thiếu suy nghĩ.
Thị phi: Phải trái.
Câu 441: (Khi đọc bài Kinh Sám Hối nầy, thấy lời văn giản dị, dùng chữ bình dân), thì nói ra lời thị phi thiếu suy nghĩ, và tỏ ý khinh rẻ câu văn mộc mạc thật thà.
Bóng khuất: Ý nói đã chết, hình bóng khuất rồi.
Di truyền: Di là sót lại, để lại; truyền là trao lại. Di truyền là truyền lại cho thế hệ sau những điểm giống thế hệ trước.
KHẢO DỊ:
Kinh Sám Hối. Minh Lý 1973, Kinh Nhơn Quả 1928: duy truyền.
Kinh Lễ, Kinh Thiên Ðạo và Thế Ðạo 1936, 1968, 1974, 1975: di truyền.
2. Nguồn gốc bài Kinh Sám Hối
Kinh Sám Hối được các Ðấng Tiện, Phật giáng cơ ban cho Minh Lý Ðạo (Tam Tông Miếu), kể từ ngày 27-3-Ất Sửu (dl 19-4-1925) cho đến ngày mùng 6-10-Ất Sửu (dl 21-11-1925) mới dứt kinh.
Thời gian giáng cơ cho Kinh kéo dài hơn 7 tháng. Các Ðấng giáng cơ cho Kinh là:
Ðức Thái Thượng Lão Quân
Ðức Quan Âm Bồ Tát
Ðức Nam Cực Chưởng Giáo
Ðức Quan Thánh Ðế Quân
Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật
Ðức Tây Ba Ðế Quân
Ðức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát
Ðức Khổng Thánh Tiên Sư
Thập Ðiện Minh Vương
Ðức Lữ Tổ
Ðức Alfred Aya
Ðức Vân Trung Tử
Mỗi vị giáng cơ ban cho một đoạn kinh, cứ nối tiếp theo hoài cho đến khi dứt kinh.
Ngay sau khi dứt Kinh Sám Hối, Ðức Ðông Phương Lão Tổ (biệt hiệu của Ðức Thái Thượng Ðạo Quân) giáng tiếp ban cho Bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối. Ấy là trọn vẹn.
Ông Âu Minh Chánh, vị sáng lập Minh Lý Ðạo (Tam Tông Miếu) có viết thuật lại như sau (ngày viết 10-6-Ðinh Mão, dl 8-7-1925):
'Một khi kia, đến cầu kinh giùm một người bằng hữu thọ bịnh tại Thủ Thiêm, có Ðức Thái Thượng Lão Quân giáng xuống mà cho một khoản đầu KINH SÁM HỐI.
Sau lần lần, mỗi khi cúng, có Tam Giáo Ðạo Chủ hoặc là chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, hoặc là Thập Ðiện Minh Vương giáng đàn cho tiếp Kinh Sám Hối.
Cũng tưởng rằng Thần Tiên cho kinh đó đặng làm phước giúp người mà thôi, không dè Ðức Văn Tuyên Vương giáng dạy chúng tôi phải kiếm một cảnh chùa đặng ngày sóc vọng đến đó dưng hương và Sám Hối.'
Khi mới khai Ðạo Cao Ðài, Ðức Chí Tôn dạy Phật giáo và 5 Chi Minh Ðạo dâng Kinh cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Do đó, Hội Thánh cử phái đoàn gồm:
Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung
Thượng Giáo Sư Vương quan Kỳ
Ðức Phạm Hộ Pháp
Ðức Cao Thượng Phẩm
Ðến Minh Lý Ðạo thỉnh bài Kinh nầy về làm Kinh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Lúc đó Kinh Sám Hối được gọi là Kinh NHƠN QUẢ.
3. Nội dung Kinh Sám Hối
Kinh Sám Hối gồm 444 câu thơ song thất lục bát, là một áng văn chương tuyệt tác siêu phàm, và đó cũng là một công trình tập thể của nhiều Ðấng Phật, Tiên, Thánh, trong Tam Giáo, nhất là có sự tham dự của Thập Ðiện Diêm Vương nơi cõi Ðịa Ngục.
Nhờ bài Kinh Sám Hối nầy, nhơn sanh biết được trong thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, những người hung ác nơi cõi trần, khi chết, linh hồn và chơn thần bị Quỉ sứ bắt giam vào Ðịa ngục, chịu những hình phạt vô cùng thảm khốc để đền bù tội lỗi.
Nhưng khi Ðức Chí Tôn mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ vào năm Bính Dần (1926), là kỳ Phổ Ðộ chót để tận độ chúng sanh trước khi Tận Thế, mở Ðại Hội Long Hoa, chấm dứt một chu kỳ tiến hóa của nhơn loại, chuyển qua thời kỳ Thánh đức, Ðức Chí Tôn đại khai Ân xá cho các đẳng linh hồn, đóng cửa Ðịa Ngục, khai phóng các tội hồn, cho đi đầu thai trả quả.
Ðức Chí Tôn có hứa với Ðức Phạm Hộ Pháp là ngày giờ nào Ðức Phạm Hộ Pháp thoát xác, trước khi trở về cõi Thiêng Liêng, Ðức Hộ Pháp sẽ đi qua cõi Ðịa ngục để khai phóng các chơn hồn oan khúc tội tình đặng cho họ, hoặc siêu thăng, hoặc đi đầu thai trả quả. (Thuyết Đạo, Đức Phạm Hộ Pháp, Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống, trang 124).
Ðức Phạm Hộ Pháp thoát xác qui Thiên vào ngày 10-4-Kỷ Hợi (1959). Như thế, cõi Ðịa ngục được hoàn toàn đóng cửa vào năm nầy.
Từ đây trở về sau, các hồn tội lỗi được đưa đến cõi Âm Quang để học đạo và tịnh tâm xét mình, có Ðịa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các Nam tội hồn và Thất Nương Diêu Trì Cung giáo hóa các Nữ tội hồn.